Dự đoán những ngân hàng dẫn đầu tăng trưởng tín dụng năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dù nhà điều hành không công bố điểm số theo bảng xếp hạng CAMEL làm căn cứ cấp hạn mức tín dụng cho các ngân hàng, song giới phân tích dự đoán một số nhà băng như: Techcombank, HDbank, Vietcombank, VIB, ACB... có khả năng được cấp hạn mức tín dụng vượt trội hơn toàn ngành.
aa
Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025 Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro Dòng vốn ngân hàng đổ vào bất động sản, cơ hội và những khoảng trống cần lấp đầy

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không công bố chi tiết hạn mức tín dụng cho từng ngân hàng. Tuy nhiên, trong báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới công bố, Chứng khoán Yuanta dự đoán các ngân hàng có khả năng được cấp hạn mức tín dụng cao hơn so với mặt bằng chung dựa theo bảng xếp hạng CAMEL.

Ngân hàng nào sẽ được cấp hạn mức tín dụng cao trong năm 2025?

Chứng khoán Yuanta cho rằng, tăng trưởng tín dụng mạnh sẽ hỗ trợ tăng trưởng thu nhập lãi. Mục tiêu tăng trưởng GDP 8% của Chính phủ đòi hỏi tín dụng phải tăng ít nhất 16% cùng kỳ. Theo đó, các ngân hàng tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém như HDBank, MB, Vietcombank và VPBank sẽ tiếp tục được cấp hạn mức tín dụng cao hơn trung bình ngành.

Dự đoán những ngân hàng dẫn đầu tăng trưởng tín dụng năm 2025
Dự đoán những ngân hàng dẫn đầu tăng trưởng tín dụng năm 2025. Ảnh minh hoạ.

Những ngân hàng có bảng cân đối kế toán mạnh và hiệu quả hoạt động tốt, ví dụ như ACB, Techcombank, VIB, cũng có khả năng được cấp hạn mức tín dụng cao. Nhóm phân tích từ Chứng khoán Yuanta cũng kỳ vọng Sacombank sẽ nhận được hạn mức tín dụng cao hơn khi tiến trình tái cơ cấu dần hoàn tất.

Trong báo cáo mới đây, Chứng khoán MBS dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2025 có thể dao động trong khoảng 17-18%, nhờ hai động lực chính: sự phục hồi mạnh mẽ của ngành sản xuất - tiêu dùng và tỷ lệ giải ngân đầu tư công tiếp tục duy trì ở mức cao.

MBS phân loại các ngân hàng có triển vọng tăng trưởng tín dụng cao thành ba nhóm, đó là ngân hàng đã sử dụng hết hạn mức tín dụng cao năm 2024, giúp họ có lợi thế khi xin cấp thêm room tín dụng cho năm 2025; ngân hàng gia tăng chi phí dự phòng và cải thiện chất lượng tài sản, giúp giảm áp lực nợ xấu khi tín dụng bán lẻ phục hồi.

Nhóm thứ ba là ngân hàng có biên lãi ròng (NIM) phục hồi mạnh trong năm 2024, giúp họ giảm lãi suất cho vay và tăng khả năng mở rộng tín dụng.

Theo đó, MBS cho rằng, tăng trưởng tín dụng trong năm 2025 của HDBank vượt trội, dự báo đạt 25%. NIM dự kiến duy trì ở mức 5,5%, vượt trội so với ngành ngân hàng, phần nào nhờ đà tăng trưởng nhanh của tài chính tiêu dùng.

Theo sau là VIB dự đoán tăng trưởng tín dụng trong năm 2025 đạt 25,2% nhờ vào sự phục hồi của tín dụng bán lẻ. Thu nhập lãi thuần tăng 24,5% cùng kỳ sau khi giảm 3,4% trong năm 2024, chủ yếu thúc đẩy tổng thu nhập hoạt động (TOI) tăng 24%.

Bên cạnh đó, tăng trưởng tiền gửi trong năm 2024 đạt 28,4%, cao hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng, điều này sẽ hỗ trợ ổn định lãi suất tiền gửi của VIB trong năm 2025. Còn NIM giảm 8 điểm cơ bản trong năm 2025 do mức nền thấp năm trước.

Techcombank vượt Vietcombank dẫn đầu bảng xếp hạng CAMEL

Các ngân hàng được chấm điểm cho từng yếu tố trên thang điểm từ 1 đến 5, trong đó 1 là tốt nhất và 5 là kém nhất. Điểm trung bình của các yếu tố sẽ xác định xếp hạng tổng thể của ngân hàng. NHNN áp dụng hệ thống xếp hạng CAMEL để đánh giá và giám sát các tổ chức tín dụng.

Kết quả xếp hạng này ảnh hưởng trực tiếp đến việc cấp hạn mức tín dụng cho các ngân hàng. Cụ thể, những ngân hàng có xếp hạng cao, tức là hoạt động lành mạnh và hiệu quả, thường được NHNN cấp hạn mức tín dụng cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng có xếp hạng thấp có thể bị hạn chế trong việc mở rộng tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

Việc áp dụng hệ thống xếp hạng CAMEL giúp NHNN theo dõi sát sao tình hình tài chính của các ngân hàng, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp, đảm bảo sự ổn định và an toàn cho hệ thống ngân hàng quốc gia.

Dự đoán những ngân hàng dẫn đầu tăng trưởng tín dụng năm 2025
Nguồn: Chứng khoán Yuanta.

Theo phân tích của Chứng khoán Yuanta, trong bảng xếp hạng mô hình CAMEL, Techcombank vượt Vietcombank, chiếm vị trí số 1 nhờ chất lượng tài sản cải thiện. Cuối năm 2024, tỷ lệ nợ xấu của Techcombank giảm 4 điểm cơ bản cùng kỳ, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tăng 12 điểm phần trăm cùng kỳ lên 114%.

Còn Vietcombank giảm điểm nhẹ do tăng trưởng lợi nhuận sau thuế năm 2024 chỉ tăng 2,4% cùng kỳ. NIM giảm 15 điểm cơ bản cùng kỳ do Vietcombank cắt giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ khách hàng theo chủ trương của NHNN. Trong năm 2025, Vietcombank có thể sẽ tiếp tục hỗ trợ lãi suất cho người đi vay, tuy nhiên, nhóm phân tích Yuanta cho rằng quy mô của ngân hàng sẽ thấp hơn so với năm 2024. Kỳ vọng Vietcombank sẽ sớm lấy lại vị trí số 1 trong bảng xếp hạng CAMEL.

Trong khi đó, Vietinbank nhảy lên vị trí thứ 5 nhờ lợi nhuận cải thiện. Thu nhập khác (chủ yếu là thu hồi nợ xấu) tăng 71% cùng kỳ trong quý IV/2024 và tăng 47% cùng kỳ trong cả năm 2024. Dự phòng giảm 45% trong quý IV/2024.

Kỳ vọng tín dụng tăng trưởng và chất lượng tài sản thúc đẩy lợi nhuận

Chứng khoán Yuanta kỳ vọng, lợi nhuận ngành ngân hàng năm 2025 sẽ được thúc đẩy chủ yếu bởi tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ và chất lượng tài sản cải thiện. Chính phủ hiện đang đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 8% và để đạt được mục tiêu này, tín dụng cần tăng trưởng ít nhất 16% cùng kỳ. Sự gia tăng cho vay này sẽ hỗ trợ tăng trưởng thu nhập lãi ròng của các ngân hàng.

Chất lượng tài sản dự kiến cải thiện, đặc biệt trong nửa cuối năm 2025, nhờ chu kỳ phục hồi của thị trường bất động sản. Dự kiến rằng khi thị trường bất động sản hồi phục, các ngân hàng có thể xử lý nợ xấu hiệu quả hơn và kiểm soát chất lượng tài sản tốt hơn. Xu hướng này sẽ giúp nâng cao lợi nhuận, đặc biệt đối với các ngân hàng có tỷ trọng cho vay bất động sản cao như MB, VPBank và Techcombank.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 5/4 không thay đổi so với phiên trước đó, với mức giá phổ biến quanh vùng 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cập nhật: 06/04/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/04/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80