Dòng vốn ngân hàng đổ vào bất động sản, cơ hội và những khoảng trống cần lấp đầy

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn ngân hàng vẫn đang chảy mạnh vào lĩnh vực bất động sản, tuy nhiên cần định hướng tín dụng vào phân khúc có nhu cầu thực để duy trì sự ổn định và bền vững cho thị trường.
aa
Dòng vốn ngân hàng đổ vào bất động sản, cơ hội và những khoảng trống cần lấp đầy
Nguồn: FiinRatings tổng hợp. Đồ họa tư liệu

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, dư nợ tín dụng bất động sản của hệ thống ngân hàng hiện đạt 3,48 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 20% so với cuối năm 2023. Dù dòng vốn lớn vẫn đổ mạnh vào lĩnh vực này, song theo lãnh đạo NHNN, nhiều dự án bất động sản vẫn đang gặp khó khăn trong triển khai và thanh khoản.

Kiểm soát rủi ro, tránh gây "bong bóng" vì tín dụng

Bất động sản vẫn là động lực chính trong tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Báo cáo của FiinRatings cho thấy, năm 2024, tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế đạt 15,08%, trong khi tín dụng cho vay chủ đầu tư bất động sản tăng tới 28,5%, gần gấp đôi mức tăng chung và gấp 4 lần tín dụng cho người mua nhà.

Với tốc độ tăng trưởng nhanh, thách thức về kiểm soát rủi ro tín dụng cũng đang trở nên rõ ràng hơn. Hiện số lượng dự án xây dựng đang triển khai ở mức kỷ lục nhưng không ít dự án gặp vướng mắc pháp lý, khiến vốn "chôn" vào nhiều dự án. Chỉ khi những vướng mắc pháp lý và tài chính được tháo gỡ khó khăn thì dòng tiền sẽ sớm quay trở lại ngân hàng, góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động tín dụng.

Giá nhà ở vượt tầm với, tín dụng mua nhà gặp khó

“Những biến động trên thị trường trái phiếu và bất động sản ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý nhà đầu tư, khiến nhà đầu tư thận trọng hơn, dòng vốn tín dụng không chảy mạnh vào lĩnh vực này, đặc biệt là tín dụng dành cho người mua nhà. Ngoài ra, khả năng chi trả của người dân đang là vấn đề đáng lo ngại khi tỷ lệ giá nhà trên thu nhập đã tiệm cận mức của các thành phố lớn ở châu Á. Việc đảm bảo giá nhà phù hợp với thu nhập trong dài hạn sẽ giúp duy trì nhu cầu bền vững cũng như sự tin tưởng của nhà đầu tư”. Ông Nguyễn Nhật Hoàng - Quản lý Cấp cao, Xếp hạng Tín nhiệm Doanh nghiệp phi tài chính tại FiinRatings.

Cùng với đó, việc đảm bảo dòng vốn được phân bổ hợp lý, tránh tình trạng lệch pha cung - cầu hay áp lực thanh khoản đối với những khoản vay dài hạn, không để rủi ro nợ xấu gia tăng là yếu tố quan trọng để thị trường phát triển bền vững. Điều này không chỉ giúp thị trường bất động sản phục hồi mà còn đảm bảo sự lưu thông ổn định của dòng vốn trong nền kinh tế.

Thống kê của TBTCVN cũng cho thấy, dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản tại nhiều ngân hàng lớn tăng mạnh trong năm 2024. Dư nợ cho vay bất động sản tại 15 ngân hàng đã công khai số liệu đạt trên 738 nghìn tỷ đồng, tăng 35% so với cuối năm 2023 (548 nghìn tỷ đồng). Điều này cho thấy dòng vốn tín dụng vẫn đang được "rót" mạnh mẽ vào lĩnh vực bất động sản, bất chấp những biến động của thị trường.

Techcombank tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực cho vay bất động sản, với dư nợ đạt 187.100 tỷ đồng, tăng 5,8% so với năm trước, chiếm gần 30% tổng dư nợ của ngân hàng. Tính riêng quý IV/2024, dư nợ tín dụng cho hoạt động bất động sản bất ngờ giảm 10,8%, trái ngược với xu hướng tăng trước đó. Vì vậy, cả tốc độ tăng trưởng dư nợ và tỷ trọng tín dụng cấp cho bất động sản suy giảm đáng kể so với cùng kỳ.

VPBank bám sát ngay phía sau với dư nợ 186.737 tỷ đồng, tăng trưởng mạnh 62,5%; chiếm 27% tổng dư nợ, cho thấy sự chú trọng của ngân hàng này vào lĩnh vực địa ốc.

Về tốc độ tăng trưởng, KienlongBank nổi bật với tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay bất động sản lên tới 315%, còn VIB cũng ghi nhận mức tăng 240,4%, cho thấy dòng vốn đang tiếp tục chảy mạnh vào thị trường này. Nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực này từ 30 - 60%. Thậm chí, một số ngân hàng đổ vốn tín dụng gấp 3 - 4 lần chỉ trong ba năm như: HDBank, Kienlongbank, MB, SHB, VIB và VPBank.

Rủi ro từ chênh lệch kỳ hạn, lệch pha cán cân cung - cầu

Mặc dù dòng vốn tín dụng từ ngân hàng đang chảy mạnh vào lĩnh vực bất động sản, nhưng thị trường vẫn tồn tại nhiều rủi ro và bất cập. Một số ngân hàng đẩy mạnh cho vay bất động sản, đặc biệt là phân khúc chủ đầu tư, tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến tình trạng lệch pha cung - cầu, khi phân khúc cao cấp dễ tiếp cận vốn hơn so với các dự án nhà ở xã hội hay nhà ở cho người có nhu cầu thực. Khi đó, nguồn cung và nhu cầu thực tế vẫn chưa gặp nhau, dẫn đến khoảng trống lớn trên thị trường.

Bên cạnh đó, rủi ro thanh khoản vẫn là bài toán lớn khi nhiều dự án gặp vướng mắc pháp lý hoặc không đủ điều kiện vay vốn, khiến dòng tiền chưa thể quay trở lại ngân hàng một cách hiệu quả.

Theo ông Nguyễn Nhật Hoàng - Quản lý Cấp cao, Xếp hạng Tín nhiệm Doanh nghiệp phi tài chính tại FiinRatings, giai đoạn suy thoái nghiêm trọng nhất của lĩnh vực bất động sản đã qua. NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% trong năm 2025, tạo điều kiện thanh khoản dồi dào hơn, nhưng không phải tất cả chủ đầu tư đều hưởng lợi như nhau.

Cũng theo ông Nguyễn Văn Đính - Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, hàng triệu tỷ đồng tín dụng đã chảy vào bất động sản nhưng nhiều doanh nghiệp, dự án vẫn "đói vốn". Trong khi đó, phân khúc cao cấp lại dễ dàng tiếp cận vốn, khiến cán cân cung - cầu bị lệch pha nghiêm trọng. Vì vậy, việc điều chỉnh dòng vốn là điều cấp bách phải làm.

Một bất cập khác được ông Đính chỉ ra, đó là hiện hơn 50% vốn của các doanh nghiệp bất động sản đến từ tín dụng ngân hàng, trong khi ngân hàng lại lấy vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, gây rủi ro lớn đối với hệ thống tài chính. Vì vậy, việc khơi thông nhiều kênh dẫn vốn khác như trái phiếu, tín phiếu, quỹ đầu tư, quỹ phát triển rất cần thiết. Những quỹ này đã được bàn bạc từ hơn 10 năm trước, nhưng các rào cản pháp lý khiến việc triển khai gặp khó khăn.

Ngân hàng sẵn sàng cho vay nhưng phải nắn dòng tín dụng đúng hướng

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng, khi nhiều doanh nghiệp gần như không còn cơ hội phát triển, tốc độ tăng trưởng tín dụng trong lĩnh vực này vẫn ở mức cao. Ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất, ngân hàng vẫn luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, gồm cả doanh nghiệp bất động sản.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng cần có sự chia sẻ. Khi đến hạn mà không trả được nợ, dẫn đến nợ xấu, không ngân hàng muốn tiếp tục cấp vốn thì doanh nghiệp cần cơ cấu lại nợ, điều chỉnh kỳ hạn để duy trì hoạt động, tránh rơi vào nợ xấu. Ngân hàng luôn sẵn sàng cho vay, nhưng nguồn vốn phải dành cho những doanh nghiệp có tiềm lực, dự án minh bạch, rõ ràng.

Cũng theo ông Hùng, nếu cứ liên tục đẩy giá lên cao, tạo mặt bằng giá ảo và kỳ vọng vào những giao dịch không thực chất mà không có đánh giá đúng mức, thì đến một thời điểm nào đó, ngân hàng cũng sẽ không thể gánh nổi. Khi đó, ngay cả những dự án tiềm năng cũng khó có thể thanh khoản được.

Tín dụng cho vay bất động sản sẽ là động lực chính giúp đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16%. Thay vì “siết” cung ứng vốn cho lĩnh vực này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) “nắn” dòng tín dụng bằng cách hướng dòng vốn vào phân khúc có nhu cầu thực. Theo đó, NHNN đẩy nhanh triển khai gói tín dụng 145.000 tỷ đồng cho vay nhà ở xã hội, cùng chương trình cho vay mua nhà dành cho người trẻ dưới 35 tuổi với lãi suất ưu đãi thấp hơn 1-3%/năm. Cơ quan này cũng tăng cường giám sát các khoản vay tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là với ngân hàng có quan hệ mật thiết với doanh nghiệp bất động sản.

Gần đây, Chính phủ yêu cầu NHNN đẩy mạnh hơn công tác thanh tra, nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần có sân sau là doanh nghiệp, doanh nghiệp bất động sản.

Việc đẩy mạnh tín dụng bất động sản có thể là cú hích cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu không kiểm soát chặt chẽ, hướng dòng vốn đúng đích, rủi ro vẫn luôn hiện hữu, có thể gây mất ổn định cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80