Dòng vốn ngân hàng đổ vào bất động sản, cơ hội và những khoảng trống cần lấp đầy

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn ngân hàng vẫn đang chảy mạnh vào lĩnh vực bất động sản, tuy nhiên cần định hướng tín dụng vào phân khúc có nhu cầu thực để duy trì sự ổn định và bền vững cho thị trường.
aa
Dòng vốn ngân hàng đổ vào bất động sản, cơ hội và những khoảng trống cần lấp đầy
Nguồn: FiinRatings tổng hợp. Đồ họa tư liệu

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, dư nợ tín dụng bất động sản của hệ thống ngân hàng hiện đạt 3,48 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 20% so với cuối năm 2023. Dù dòng vốn lớn vẫn đổ mạnh vào lĩnh vực này, song theo lãnh đạo NHNN, nhiều dự án bất động sản vẫn đang gặp khó khăn trong triển khai và thanh khoản.

Kiểm soát rủi ro, tránh gây "bong bóng" vì tín dụng

Bất động sản vẫn là động lực chính trong tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Báo cáo của FiinRatings cho thấy, năm 2024, tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế đạt 15,08%, trong khi tín dụng cho vay chủ đầu tư bất động sản tăng tới 28,5%, gần gấp đôi mức tăng chung và gấp 4 lần tín dụng cho người mua nhà.

Với tốc độ tăng trưởng nhanh, thách thức về kiểm soát rủi ro tín dụng cũng đang trở nên rõ ràng hơn. Hiện số lượng dự án xây dựng đang triển khai ở mức kỷ lục nhưng không ít dự án gặp vướng mắc pháp lý, khiến vốn "chôn" vào nhiều dự án. Chỉ khi những vướng mắc pháp lý và tài chính được tháo gỡ khó khăn thì dòng tiền sẽ sớm quay trở lại ngân hàng, góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động tín dụng.

Giá nhà ở vượt tầm với, tín dụng mua nhà gặp khó

“Những biến động trên thị trường trái phiếu và bất động sản ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý nhà đầu tư, khiến nhà đầu tư thận trọng hơn, dòng vốn tín dụng không chảy mạnh vào lĩnh vực này, đặc biệt là tín dụng dành cho người mua nhà. Ngoài ra, khả năng chi trả của người dân đang là vấn đề đáng lo ngại khi tỷ lệ giá nhà trên thu nhập đã tiệm cận mức của các thành phố lớn ở châu Á. Việc đảm bảo giá nhà phù hợp với thu nhập trong dài hạn sẽ giúp duy trì nhu cầu bền vững cũng như sự tin tưởng của nhà đầu tư”. Ông Nguyễn Nhật Hoàng - Quản lý Cấp cao, Xếp hạng Tín nhiệm Doanh nghiệp phi tài chính tại FiinRatings.

Cùng với đó, việc đảm bảo dòng vốn được phân bổ hợp lý, tránh tình trạng lệch pha cung - cầu hay áp lực thanh khoản đối với những khoản vay dài hạn, không để rủi ro nợ xấu gia tăng là yếu tố quan trọng để thị trường phát triển bền vững. Điều này không chỉ giúp thị trường bất động sản phục hồi mà còn đảm bảo sự lưu thông ổn định của dòng vốn trong nền kinh tế.

Thống kê của TBTCVN cũng cho thấy, dư nợ tín dụng kinh doanh bất động sản tại nhiều ngân hàng lớn tăng mạnh trong năm 2024. Dư nợ cho vay bất động sản tại 15 ngân hàng đã công khai số liệu đạt trên 738 nghìn tỷ đồng, tăng 35% so với cuối năm 2023 (548 nghìn tỷ đồng). Điều này cho thấy dòng vốn tín dụng vẫn đang được "rót" mạnh mẽ vào lĩnh vực bất động sản, bất chấp những biến động của thị trường.

Techcombank tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực cho vay bất động sản, với dư nợ đạt 187.100 tỷ đồng, tăng 5,8% so với năm trước, chiếm gần 30% tổng dư nợ của ngân hàng. Tính riêng quý IV/2024, dư nợ tín dụng cho hoạt động bất động sản bất ngờ giảm 10,8%, trái ngược với xu hướng tăng trước đó. Vì vậy, cả tốc độ tăng trưởng dư nợ và tỷ trọng tín dụng cấp cho bất động sản suy giảm đáng kể so với cùng kỳ.

VPBank bám sát ngay phía sau với dư nợ 186.737 tỷ đồng, tăng trưởng mạnh 62,5%; chiếm 27% tổng dư nợ, cho thấy sự chú trọng của ngân hàng này vào lĩnh vực địa ốc.

Về tốc độ tăng trưởng, KienlongBank nổi bật với tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay bất động sản lên tới 315%, còn VIB cũng ghi nhận mức tăng 240,4%, cho thấy dòng vốn đang tiếp tục chảy mạnh vào thị trường này. Nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực này từ 30 - 60%. Thậm chí, một số ngân hàng đổ vốn tín dụng gấp 3 - 4 lần chỉ trong ba năm như: HDBank, Kienlongbank, MB, SHB, VIB và VPBank.

Rủi ro từ chênh lệch kỳ hạn, lệch pha cán cân cung - cầu

Mặc dù dòng vốn tín dụng từ ngân hàng đang chảy mạnh vào lĩnh vực bất động sản, nhưng thị trường vẫn tồn tại nhiều rủi ro và bất cập. Một số ngân hàng đẩy mạnh cho vay bất động sản, đặc biệt là phân khúc chủ đầu tư, tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến tình trạng lệch pha cung - cầu, khi phân khúc cao cấp dễ tiếp cận vốn hơn so với các dự án nhà ở xã hội hay nhà ở cho người có nhu cầu thực. Khi đó, nguồn cung và nhu cầu thực tế vẫn chưa gặp nhau, dẫn đến khoảng trống lớn trên thị trường.

Bên cạnh đó, rủi ro thanh khoản vẫn là bài toán lớn khi nhiều dự án gặp vướng mắc pháp lý hoặc không đủ điều kiện vay vốn, khiến dòng tiền chưa thể quay trở lại ngân hàng một cách hiệu quả.

Theo ông Nguyễn Nhật Hoàng - Quản lý Cấp cao, Xếp hạng Tín nhiệm Doanh nghiệp phi tài chính tại FiinRatings, giai đoạn suy thoái nghiêm trọng nhất của lĩnh vực bất động sản đã qua. NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% trong năm 2025, tạo điều kiện thanh khoản dồi dào hơn, nhưng không phải tất cả chủ đầu tư đều hưởng lợi như nhau.

Cũng theo ông Nguyễn Văn Đính - Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, hàng triệu tỷ đồng tín dụng đã chảy vào bất động sản nhưng nhiều doanh nghiệp, dự án vẫn "đói vốn". Trong khi đó, phân khúc cao cấp lại dễ dàng tiếp cận vốn, khiến cán cân cung - cầu bị lệch pha nghiêm trọng. Vì vậy, việc điều chỉnh dòng vốn là điều cấp bách phải làm.

Một bất cập khác được ông Đính chỉ ra, đó là hiện hơn 50% vốn của các doanh nghiệp bất động sản đến từ tín dụng ngân hàng, trong khi ngân hàng lại lấy vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, gây rủi ro lớn đối với hệ thống tài chính. Vì vậy, việc khơi thông nhiều kênh dẫn vốn khác như trái phiếu, tín phiếu, quỹ đầu tư, quỹ phát triển rất cần thiết. Những quỹ này đã được bàn bạc từ hơn 10 năm trước, nhưng các rào cản pháp lý khiến việc triển khai gặp khó khăn.

Ngân hàng sẵn sàng cho vay nhưng phải nắn dòng tín dụng đúng hướng

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng, khi nhiều doanh nghiệp gần như không còn cơ hội phát triển, tốc độ tăng trưởng tín dụng trong lĩnh vực này vẫn ở mức cao. Ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất, ngân hàng vẫn luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, gồm cả doanh nghiệp bất động sản.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng cần có sự chia sẻ. Khi đến hạn mà không trả được nợ, dẫn đến nợ xấu, không ngân hàng muốn tiếp tục cấp vốn thì doanh nghiệp cần cơ cấu lại nợ, điều chỉnh kỳ hạn để duy trì hoạt động, tránh rơi vào nợ xấu. Ngân hàng luôn sẵn sàng cho vay, nhưng nguồn vốn phải dành cho những doanh nghiệp có tiềm lực, dự án minh bạch, rõ ràng.

Cũng theo ông Hùng, nếu cứ liên tục đẩy giá lên cao, tạo mặt bằng giá ảo và kỳ vọng vào những giao dịch không thực chất mà không có đánh giá đúng mức, thì đến một thời điểm nào đó, ngân hàng cũng sẽ không thể gánh nổi. Khi đó, ngay cả những dự án tiềm năng cũng khó có thể thanh khoản được.

Tín dụng cho vay bất động sản sẽ là động lực chính giúp đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16%. Thay vì “siết” cung ứng vốn cho lĩnh vực này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) “nắn” dòng tín dụng bằng cách hướng dòng vốn vào phân khúc có nhu cầu thực. Theo đó, NHNN đẩy nhanh triển khai gói tín dụng 145.000 tỷ đồng cho vay nhà ở xã hội, cùng chương trình cho vay mua nhà dành cho người trẻ dưới 35 tuổi với lãi suất ưu đãi thấp hơn 1-3%/năm. Cơ quan này cũng tăng cường giám sát các khoản vay tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là với ngân hàng có quan hệ mật thiết với doanh nghiệp bất động sản.

Gần đây, Chính phủ yêu cầu NHNN đẩy mạnh hơn công tác thanh tra, nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần có sân sau là doanh nghiệp, doanh nghiệp bất động sản.

Việc đẩy mạnh tín dụng bất động sản có thể là cú hích cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu không kiểm soát chặt chẽ, hướng dòng vốn đúng đích, rủi ro vẫn luôn hiện hữu, có thể gây mất ổn định cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Asahi Mutual Life (Nhật Bản) vừa hoàn tất mua lại 100% vốn MVI Life, đồng thời đổi tên doanh nghiệp thành Asahi Life. Thương vụ đánh dấu bước ngoặt mới trong hành trình nhiều lần thay đổi chủ sở hữu và thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ này. Nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp lãi trước thuế 191,2 tỷ đồng, với danh mục đầu tư hơn 16.300 tỷ đồng.
Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Hà Nội - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Miền Tây - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
Trang sức 99.9 13,180 ▲100K 13,780 ▲100K
Trang sức 99.99 13,190 ▲100K 13,790 ▲100K
Vàng 99.9 12,650 ▲100K
Vàng 99.99 12,800 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 ▲1K 14,002 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 ▲1K 14,003 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,328 ▲10K 1,368 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,328 ▲10K 1,369 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,308 ▲10K 1,358 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 127,455 ▲990K 134,455 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,221 ▲75K 10,201 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,703 ▲680K 92,503 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,196 ▲610K 82,996 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 69,529 ▲583K 79,329 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,984 ▲417K 56,784 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cập nhật: 02/11/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17575 17848 18430
CAD 17909 18184 18797
CHF 30632 31008 31647
CNY 0 3836 3932
EUR 28176 28392 29468
GBP 33720 34109 35044
HKD 0 3156 3358
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14167 14756
SGD 19617 19898 20469
THB 679 742 795
USD (1,2) 25529 0 0
USD (5,10,20) 25567 0 0
USD (50,100) 25594 25608 25972
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,610 25,610 25,990
USD(1-2-5) 24,586 - -
USD(10-20) 24,586 - -
EUR 28,246 28,269 29,614
JPY 159.01 159.3 168.97
GBP 33,922 34,014 35,195
AUD 17,796 17,860 18,540
CAD 18,115 18,173 18,846
CHF 30,884 30,980 31,908
SGD 19,757 19,818 20,597
CNY - 3,802 3,948
HKD 3,222 3,232 3,368
KRW 17.76 18.52 20.15
THB 728.57 737.57 789.58
NZD 14,187 14,319 14,743
SEK - 2,584 2,676
DKK - 3,789 3,924
NOK - 2,753 2,852
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,930.52 - 6,696.31
TWD 714.03 - 865.15
SAR - 6,755.77 7,117.67
KWD - 81,466 86,697
AED - 6,770 7,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,221 28,363 29,591
GBP 33,895 34,065 35,100
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,727 30,881 31,829
JPY 158.68 160.28 168.26
AUD 17,756 17,881 18,479
SGD 19,728 19,907 20,504
THB 732 747 784
CAD 18,082 18,209 18,807
NZD 14,263 14,818
KRW 18.60 20.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25570 25600 25970
AUD 17757 17857 18779
CAD 18089 18189 19201
CHF 30840 30870 32451
CNY 3813.8 3838.8 3974.3
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28330 28360 30086
GBP 33989 34039 35801
HKD 0 3300 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14259 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19765 19895 20617
THB 0 708.2 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,500 25,620 25,920
USD20 25,470 25,620 25,920
USD1 25,450 25,620 25,920
AUD 17,715 17,865 18,697
EUR 28,152 28,252 29,924
CAD 18,054 18,154 19,466
SGD 19,866 20,016 20,900
JPY 160.41 161.91 167.53
GBP 33,928 34,078 35,461
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30