Thanh tra phát hiện thiếu sót trong hoạt động cho vay tại ACB Nghệ An

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Kết luận thanh tra ACB Nghệ An nêu rõ còn nhiều hạn chế, thiếu sót trong hoạt động cho vay. Trong năm 2024, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng ACB năm 2024 đạt 19,1% song thu nhập lãi đi lùi, chất lượng tài sản có phần suy giảm.
aa
ACB lên tiếng về thông tin 'lãnh đạo ngân hàng đánh bạc, chuyển tiền ra nước ngoài' Tín dụng bán lẻ chưa thoát cảnh đìu hiu, năm 2024 ngân hàng ACB và VIB làm ăn thế nào? "Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024

Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh tỉnh Nghệ An vừa công bố kết luận thanh tra Ngân hàng TMCP Á Châu, Chi nhánh Nghệ An (ACB Nghệ An).

Những hạn chế trong hoạt động cho vay

Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) Chi nhánh Nghệ An có trụ sở đặt tại 37A đường Quang Trung, phường Quang Trung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Nội dung thanh tra về hoạt động cấp tín dụng; phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng; thanh tra hoạt động huy động vốn của tổ chức kinh tế, cá nhân (VND và ngoại tệ); thanh tra việc chấp hành một số quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối; thanh tra việc chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền; thanh tra việc chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tội phạm ngân hàng.

Thanh tra phát hiện thiếu sót trong hoạt động cho vay tại ACB Nghệ An
Thanh tra phát hiện thiếu sót trong hoạt động cho vay tại ngân hàng ACB Nghệ An. Ảnh tư liệu.

Rà soát, phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cho vay

Căn cứ kết quả thanh tra, Thanh tra, giám sát NHNN Chi nhánh tỉnh Nghệ An yêu cầu ACB Chi nhánh Nghệ An thực hiện ba kiến nghị, gồm kiểm điểm trách nhiệm các cá nhân liên quan đến các tồn tại, sai sót, thực hiện trước 31/01/2025; rà soát và có các ứng xử tín dụng để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cho vay, thực hiện trước 31/01/2025; thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn, thực hiện trước 31/3/2025.

Kết luận thanh tra nêu rõ, hoạt động cấp tín dụng của ACB Nghệ An về chất lượng công tác thẩm định, xét duyệt cho vay; kiểm tra giám sát cơ bản tuân thủ quy định của pháp luật, tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót.

Theo đó, ACB Nghệ An thẩm định và quyết định cho vay đối với một số khách hàng chưa chặt chẽ, chưa đầy đủ theo quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Thống đốc NHNN (đã sửa đổi, bổ sung).

Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát sau cho vay đối với một số khách hàng chưa cập nhật đầy đủ, kịp thời các tài liệu theo quy định của pháp luật.

Thách thức từ NIM co hẹp, nợ xấu tăng

Liên quan đến hoạt động cho vay, theo Chứng khoán Vietcap, tăng trưởng tín dụng của ACB năm 2024 đạt 19,1% với mức tăng trưởng tín dụng cho bán lẻ, doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp lớn lần lượt đạt 14,9%, 12,1% và 86,2%.

Tăng trưởng tín dụng trong mảng doanh nghiệp lớn do mức nền so sánh thấp, tăng từ 6% danh mục cho vay của ACB vào năm 2023 lên 10% vào cuối năm 2024 và khả năng cung cấp lãi suất cho vay cạnh tranh của ACB cho những khách hàng này. Theo đại diện ngân hàng, ACB nhắm mục tiêu đến các khách hàng doanh nghiệp và FDI hàng đầu, với các khoản vay FDI được báo cáo đã tăng khoảng 50% vào năm 2024.

ACB ghi nhận mức tăng trưởng hai chữ số đối với mảng cho vay thế chấp mua nhà trong năm 2024, đạt khoảng 11%. Chứng khoán Vietcap cho rằng, ACB đã được hưởng lợi từ Thông tư 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023, cho phép người mua nhà tái cấp vốn cho các khoản vay với một ngân hàng khác mà cung cấp lãi suất cho vay hấp dẫn hơn.

Trong khi đó, tăng trưởng tiền gửi năm 2024 của ACB tăng chậm hơn, đạt 11,3%, còn tăng trưởng giấy tờ có giá đạt 94%. Trong bối cảnh lãi suất tăng, việc huy động vốn thông qua giấy tờ có giá trong trung và dài hạn sẽ giúp ACB ổn định chi phí huy động. Ngoài ra, ACB tăng lãi suất tiền gửi ít nhất trong số các ngân hàng tư nhân.

Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) quý IV/2024 của ACB đạt 22,7%, tăng 69 điểm cơ bản cùng kỳ và tăng 110 điểm cơ bản so với quý trước.

Biên lãi ròng (NIM) năm 2024 của ACB đạt 3,59%, giảm 27 điểm cơ bản so với cùng kỳ. So với quý trước, NIM của ACB tiếp tục chịu áp lực, giảm 11 điểm cơ bản theo so với quý trước xuống còn 3,51% trong quý IV/2024. Chứng khoán Vietcap cho rằng điều này đến từ lợi suất cho vay thấp hơn trong bối cảnh cạnh tranh cao giữa các ngân hàng và nhu cầu tín dụng bán lẻ yếu trong khi lãi suất tiền gửi đã tăng kể từ nửa cuối năm 2024.

Thanh tra phát hiện thiếu sót trong hoạt động cho vay tại ACB Nghệ An
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của ACB.

Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu quý IV/2024 của ACB đạt 1,49%, đi ngang so với quý trước. Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, ACB vẫn phải đối mặt với áp lực nợ xấu dềnh lên, các khoản vay tiếp tục bị suy giảm chất lượng và phải chuyển nhóm, trong khi tỷ lệ bao nợ xấu (LLR) thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, ở mức 77,92%. Tổng số dư nợ xấu (nợ nhóm 3-5) tăng gần 47% so với cuối năm 2023, đạt 8.650 tỷ đồng, đẩy tỷ lệ nợ xấu từ 1,21% lên 1,49%.

Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) của ACB tăng mạnh nhất đạt 6.748 tỷ đồng, tương ứng tăng hơn 73%, cho thấy những thách thức từ môi trường kinh doanh và chất lượng tín dụng.

Thu nhập giảm tốc

Năm 2024, ACB ghi nhận thu nhập từ hoạt động kinh doanh đạt 33,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% cùng kỳ và lợi nhuận sau thuế 16.790 tỷ đồng, đây là mức lợi nhuận cao kỷ lục của ACB, nhưng chỉ hoàn thành 95,5% kế hoạch năm đề ra (22.000 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế).

Trong đó, thu nhập lãi thuần tăng 11,4% đạt 27.794,7 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí giảm sâu 15,6% trong khi thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự từ tín dụng - mảng kinh doanh cốt lõi của ngân hàng lại đi lùi 2,8%.

Thu nhập ngoài lãi năm 2024 của ACB cũng giảm 26,5% cùng kỳ, đạt 5,7 nghìn tỷ đồng. Theo Chứng khoán Vietcap, sở dĩ thu nhập ngoài lãi giảm sâu chủ yếu do thu nhập từ thu hồi nợ xấu thấp với thu nhập khác giảm 27,8% cùng kỳ và ACB ghi nhận khoản thu nhập một lần cao từ việc bán trái phiếu Chính phủ vào năm 2023.

Thu nhập phí thuần (NFI) tăng 10,8% cùng kỳ dù hoạt động bancassurance kém hiệu quả, vốn là động lực thu nhập chính trong những năm trước. Mức tăng trưởng này được hỗ trợ bởi nỗ lực của ACB nhằm thúc đẩy thu nhập từ phí từ các dịch vụ thẻ và dịch vụ thanh toán.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với loạt chỉ tiêu tăng trưởng hai chữ số. Theo đó, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% và hướng tới mức cao nhất lịch sử. Dư nợ tín dụng thị trường 1 dự kiến đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%; đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đảm bảo tăng trưởng đi kèm an toàn.
ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa bổ sung tờ trình sửa đổi đề án thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Đại hội đồng cổ đông tới đây. Theo đó, ACB Insurance có vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng. Doanh nghiệp đặt mục tiêu sau 5 năm sẽ chiếm trên 1,5% thị phần nhờ tăng trưởng phí trên 50%/năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80