Các ngân hàng có bộ đệm dự phòng lớn sẽ “lấn lướt” về tăng trưởng

Duy Thái (thực hiện)
(TBTCVN) - Áp lực trích lập dự phòng rủi ro của các ngân hàng sẽ vẫn ở mức cao, do nợ xấu cao cùng với đó là trích lập cho các khoản nợ tái cơ cấu. Tuy nhiên, rủi ro tác động tới lợi nhuận của nhiều ngân hàng sẽ không quá lớn.
aa

nh

Những ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng lớn năm 2020 sẽ có lợi thế hơn trong năm 2021.

Theo đó, nhóm ngân hàng đã có bộ đệm dự phòng lớn với tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao,… nhiều khả năng sẽ duy trì được mức tăng trưởng tốt trong năm 2021; trong khi đó, khó khăn sẽ gia tăng đối với các ngân hàng còn khá dè dặt trong việc chuẩn bị bộ đệm dự phòng trong năm 2020. Để làm rõ hơn về áp lực và triển vọng ngành Ngân hàng năm 2021, phóng viên TBTCVN đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Anh Tùng - Chuyên viên cao cấp, Trung tâm Phân tích, Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV).

PV: Dù chịu tác động từ đại dịch Covid-19, tuy nhiên năm 2020 ngành Ngân hàng vẫn duy trì mức lãi rất tốt. Theo ông, liệu đà tăng này có được duy trì trong năm 2021?

Ông Nguyễn Anh Tùng: Theo quan điểm của KBSV, đà tăng trưởng lợi nhuận của nhóm ngân hàng niêm yết nhiều khả năng sẽ có diễn biến phân hóa trong năm 2021.

tung

Ông Nguyễn Anh Tùng

Dù Covid-19 tái bùng phát lần 3, song với kinh nghiệm của Chính phủ, triển vọng tăng trưởng tín dụng kỳ vọng sẽ tích cực hơn khi các doanh nghiệp trở lại hoạt động kinh doanh sau khi dịch được kiểm soát tại Việt Nam khiến nhu cầu huy động vốn tăng cao. Cùng với đó, mức nền tín dụng thấp trong năm 2020 cũng là cơ hội cho tín dụng tăng tốt hơn cho năm 2021. Tuy nhiên, áp lực trích lập dự phòng nợ xấu dự kiến sẽ vẫn ở mức cao khi vẫn còn nhiều doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid-19. Cùng với đó, các ngân hàng sẽ bắt đầu thực hiện trích lập đúng với bản chất các khoản nợ tái cơ cấu sau khi Thông tư 01/2020/TT-NHNN kết thúc.

Như vậy, nhóm ngân hàng đã có bộ đệm dự phòng lớn với tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao,… nhiều khả năng sẽ duy trì được mức tăng trưởng tốt trong năm 2021. Trong khi đó, áp lực trích lập sẽ khiến câu chuyện tăng trưởng khó khăn hơn đối với các ngân hàng còn khá dè dặt trong việc chuẩn bị bộ đệm dự phòng trong năm 2020.

PV: Hai áp lực lớn nhất có thể ảnh hưởng tới ngành ngân hàng trong năm 2021 là nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro. Ông đánh giá thế nào về tác động của hai rủi ro này tới lợi nhuận các nhà băng, trong bối cảnh Thông tư 01/2020/TT-NHNN đang trong quá trình sửa đổi?

Ông Nguyễn Anh Tùng: Tỷ lệ nợ xấu sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao khi các doanh nghiệp hàng không, du lịch, xuất nhập khẩu… vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề từ diễn biến dịch Covid-19 trên thế giới. Áp lực trích lập dự phòng rủi ro sẽ vẫn ở mức cao do nợ xấu cao cùng với đó là trích lập cho các khoản nợ tái cơ cấu. Tuy nhiên, rủi ro đối với lợi nhuận của các ngân hàng sẽ không quá cao do kì vọng tăng trưởng tín dụng cũng như việc sửa đổi của Thông tư 01 phần nào giảm bớt áp lực trích lập.

Thông tư 01/2020/TT-NHNN đang trong quá trình sửa đổi theo hướng các ngân hàng trích lập dự phòng đúng với bản chất khoản nợ, tuy nhiên vẫn giữ nguyên nhóm nợ để hỗ trợ doanh nghiệp không bị tăng lãi suất và lộ trình trích lập sẽ diễn ra trong 3 năm tính từ năm 2021 để tránh gây cú sốc lợi nhuận cho các ngân hàng.

PV: Một điểm cũng được rất nhiều người quan tâm đó là tốc độ tăng trưởng tín dụng, đặc biệt là chất lượng tín dụng. Ông nhận định thế nào trong năm 2021?

Ông Nguyễn Anh Tùng: Triển vọng tăng trưởng tín dụng kỳ vọng sẽ tích cực (khoảng 13%) khi các doanh nghiệp trở lại hoạt động kinh doanh sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát tốt tại Việt Nam khiến nhu cầu huy động vốn tăng cao, cùng với đó là mức nền tín dụng thấp trong năm 2020. Tỷ lệ nợ xấu vẫn sẽ duy trì ổn định khi nhiều ngân hàng đã chuẩn bị bộ đệm dự phòng khá tốt trong năm 2020, chất lượng tín dụng cũng sẽ được cải thiện khi tập trung tài trợ cho lĩnh vực sản xuất.

PV: Còn về cổ phiếu ngân hàng, ông đánh giá thế nào về cơ hội sinh lời năm 2021? Đâu là những yếu tố mà chúng ta có thể kỳ vọng dòng tiền vẫn sẽ quan tâm lớn tới dòng cổ phiếu này?

Ông Nguyễn Anh Tùng: Sau nhịp giảm điểm mạnh vào cuối tháng 1/2021 của thị trường chúng tôi đánh giá tích cực với cơ hội sinh lời của nhóm cổ phiếu ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng đã đẩy mạnh trích lập trong năm 2020. Các yếu tố hỗ trợ có thể kể đến như kỳ vọng tăng trưởng tín dụng, bộ đệm dự phòng tăng cao, các ngân hàng đẩy mạnh thu nhập ngoài lãi, áp dụng công nghệ, giảm chi phí hoạt động…

PV: Xin cảm ơn ông!

Rủi ro về lợi nhuận của các ngân hàng sẽ không quá cao

Áp lực trích lập dự phòng rủi ro sẽ vẫn ở mức cao do nợ xấu cao cùng với đó là trích lập cho các khoản nợ tái cơ cấu. Tuy nhiên, rủi ro đối với lợi nhuận của các ngân hàng sẽ không quá cao do kì vọng tăng trưởng tín dụng cũng như việc sửa đổi của Thông tư 01 phần nào giảm bớt áp lực trích lập.

Duy Thái (thực hiện)

Duy Thái (thực hiện)

Đọc thêm

Tiền nhàn rỗi: Tích lũy và đầu tư ra sao?

Tiền nhàn rỗi: Tích lũy và đầu tư ra sao?

(TBTCO) - Tiền nhàn rỗi nên làm gì để vừa chủ động trước những khoản chi bất ngờ, vừa từng bước xây dựng tài sản cho tương lai? Trong bối cảnh người Việt ngày càng chú trọng quản lý dòng tiền, tích lũy hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào thu nhập mà còn nằm ở cách phân bổ và sử dụng tiền hợp lý.
Tỷ giá USD hôm nay (14/10): Tỷ giá USD trong nước trái chiều, CPI Mỹ tăng có thể khiến Fed nâng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (14/10): Tỷ giá USD trong nước trái chiều, CPI Mỹ tăng có thể khiến Fed nâng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 14/10, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng lên 25.646 đồng, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng giảm. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 102,18 điểm. Thị trường chờ dữ liệu lạm phát Mỹ, khi một số nhà phân tích nhận định CPI lõi tăng 0,4% trong tháng 9 có thể khiến Fed đẩy sớm quyết định tăng lãi suất lên tháng 10.
Giá vàng hôm nay ngày 14/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước giảm tại một số “nhà vàng”

Giá vàng hôm nay ngày 14/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước giảm tại một số “nhà vàng”

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm tại một số thương hiệu, với mức điều chỉnh phổ biến từ 100.000 đến 300.000 đồng/lượng.
F88 gần cán đích lợi nhuận năm sau 9 tháng, giải ngân cho vay tăng 51%

F88 gần cán đích lợi nhuận năm sau 9 tháng, giải ngân cho vay tăng 51%

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, F88 ghi nhận lợi nhuận trước thuế hợp nhất 1.086,9 tỷ đồng, tăng 80% so với cùng kỳ, hoàn thành khoảng 96% kế hoạch năm. Tổng mức giải ngân cho vay đạt hơn 17.300 tỷ đồng, tăng 51%; doanh thu phân phối bảo hiểm tăng 74,6%. Doanh nghiệp cũng tăng trích lập dự phòng nhằm kiểm soát rủi ro.
Quy định mới về quản lý tài chính với chương trình, dự án tài chính vi mô

Quy định mới về quản lý tài chính với chương trình, dự án tài chính vi mô

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 153/2026/TT-BTC, có hiệu lực từ ngày 1/12/2026, quy định chế độ tài chính đối với chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ, nhằm tăng tính minh bạch trong quản lý vốn, tài sản, doanh thu và chi phí.
Lãnh đạo Bảo hiểm VietinBank đón nhận vinh danh "Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu - Cúp Thánh Gióng" năm 2026

Lãnh đạo Bảo hiểm VietinBank đón nhận vinh danh "Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu - Cúp Thánh Gióng" năm 2026

(TBTCO) - Tối ngày 11/10, ông Nguyễn Huy Quang – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Bảo hiểm VietinBank - VBI nhận vinh danh “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu – Cúp Thánh Gióng” năm 2026. Chương trình do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc Gia, Hà Nội, nhằm tôn vinh những thành tích và đóng góp của đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân trong công cuộc phát triển đất nước.
Giá vàng hôm nay ngày 13/10:  Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Sau nhịp tăng lên mức cao nhất một tuần, giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce. Trong nước, các thương hiệu cũng điều chỉnh giảm giá vàng miếng và vàng nhẫn.
Shinhan Life Việt Nam hoàn thành chương trình hướng nghiệp S-Career 2026 cho học sinh trung học phổ thông

Shinhan Life Việt Nam hoàn thành chương trình hướng nghiệp S-Career 2026 cho học sinh trung học phổ thông

(TBTCO) - Shinhan Life Việt Nam phối hợp cùng Công ty Giáo dục Hướng nghiệp SIF Career (“SIF Career”) vừa chính thức hoàn thành chương trình S-Career mùa thứ 3 bằng việc tổ chức buổi hướng nghiệp tại Trường THPT Tân An (tỉnh Tây Ninh). Năm 2026, chương trình được tổ chức tại 4 điểm trường ở các tỉnh Cà Mau, Đồng Tháp và Tây Ninh đã hỗ trợ trực tiếp cho khoảng 1.600 học sinh trung học phổ thông cùng hơn 110 giáo viên, tiếp tục hiện thực hóa cam kết phát triển bền vững và sứ mệnh “Doanh nghiệp vì Cộng đồng” của Shinhan Life tại Việt Nam.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,030 ▼100K 14,330 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,030 ▼100K 14,330 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,030 ▼100K 14,330 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,930 ▼20K 14,330 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,930 ▼20K 14,330 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,930 ▼20K 14,330 ▼20K
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,610 ▼20K 14,210 ▼20K
Trang sức 99.99 13,620 ▼20K 14,220 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,403 ▼10K 14,332 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,403 ▼10K 14,333 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,398 ▼10K 1,428 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,398 ▼10K 1,429 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,373 ▼10K 1,418 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,396 ▼990K 140,396 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,711 ▼750K 106,511 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,784 ▼680K 96,584 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,857 ▼610K 86,657 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,028 ▼583K 82,828 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,487 ▼417K 59,287 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Cập nhật: 14/10/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17597 17869 18442
CAD 17705 17979 18594
CHF 30484 30860 31500
CNY 0 3827 3923
EUR 28393 28610 29687
GBP 33569 33957 34890
HKD 0 3169 3370
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14257 14841
SGD 19685 19966 20535
THB 687 751 804
USD (1,2) 25633 0 0
USD (5,10,20) 25671 0 0
USD (50,100) 25699 25713 26078
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,720 25,720 26,100
USD(1-2-5) 24,692 - -
USD(10-20) 24,692 - -
EUR 28,454 28,477 29,827
JPY 158.97 159.26 168.89
GBP 33,732 33,823 35,009
AUD 17,776 17,840 18,515
CAD 17,892 17,949 18,613
CHF 30,734 30,830 31,735
SGD 19,812 19,874 20,665
CNY - 3,796 3,941
HKD 3,234 3,244 3,380
KRW 17.82 18.58 20.21
THB 736.06 745.15 797.88
NZD 14,246 14,378 14,803
SEK - 2,557 2,648
DKK - 3,817 3,952
NOK - 2,678 2,773
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,931.2 - 6,694.99
TWD 726.56 - 880.29
SAR - 6,780.09 7,142.66
KWD - 81,763 87,007
AED - 6,799 7,326
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,695 25,725 26,105
EUR 28,434 28,577 29,801
GBP 33,720 33,889 34,921
HKD 3,228 3,247 3,364
CHF 30,575 30,729 31,674
JPY 158.69 160.29 168.27
AUD 17,735 17,860 18,457
SGD 19,794 19,974 20,568
THB 741 756 793
CAD 17,895 17,985 18,583
NZD 14,320 14,875
KRW 18.67 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25710 26080
AUD 17748 17848 18773
CAD 17881 17981 18995
CHF 30709 30739 32320
CNY 3809 3834 3969.4
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28563 28593 30318
GBP 33847 33897 35657
HKD 0 3315 0
JPY 159.97 160.47 171
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14356 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19847 19977 20699
THB 0 716.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,597 25,717 26,010
USD20 25,567 25,717 26,010
USD1 25,547 25,717 26,010
AUD 17,818 17,918 19,023
EUR 28,367 28,467 30,130
CAD 17,828 17,928 19,236
SGD 19,923 20,073 20,628
JPY 160.59 162.09 167.62
GBP 33,755 33,905 34,977
XAU 14,028,000 0 14,332,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 752 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/10/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30