Chính thức công bố giảm một loạt mức lãi suất chủ chốt từ 18/3

Hoàng Yến
Chiều 17/3, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã họp báo công bố việc điều chỉnh giảm một loạt các lãi suất chủ chốt trong đó có lãi suất tối đa tiền gửi bằng VND, USD; lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND.
aa

Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 tháng trở lên vẫn do ngân hàng tự quyết

Cụ thể từ ngày mai (18/3), NHNN sẽ giảm 0,5%/năm đối với tất cả các mức lãi suất điều hành. Bao gồm: giảm lãi suất tái cấp vốn từ 7% xuống 6,5%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 5% xuống 4,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 8% xuống 7,5%/năm. Cũng từ ngày mai 18/3, NHNN sẽ giảm mức lãi suất chào mua các giấy tờ có giá trên thị trường mở từ mức 5,5% xuống 5%/năm.

Một loạt các mức trần lãi suất tiền gửi cũng được điều chỉnh giảm. Theo đó, lãi suất tối đa với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 1,2%/năm xuống 1%/năm; lãi suất tối đa tiền gửi kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng giảm từ 7%/năm xuống 6%/năm; lãi suất tối đa với tiền gửi kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng tại Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô giảm từ 7,5% xuống 6,5%. Lãi suất tiền gửi USD của cá nhân giảm từ 1,25% xuống 1%/năm. Riêng lãi suất tiền gửi VND có kỳ hạn 6 tháng trở lên vẫn do các tổ chức tín dụng ấn định trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường.

Cùng với việc giảm lãi suất huy động, lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với 5 lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DN vừa và nhỏ, DN ứng dụng công nghệ cao giảm từ 9% xuống 8%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô với các nhu cầu vốn này giảm từ 10% xuống 9%/năm.

NHNN
Buổi họp báo công bố quyết định giảm lãi suất ngày 17/3.

Tín dụng tăng trưởng dương từ đầu tháng 3

Đánh giá về quyết định giảm lãi suất, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Đồng Tiến cho rằng, thời gian gần đây, các động thái điều hành của NHNN không quá bất ngờ, hầu như có thể đoán trước, vấn đề chỉ là cân nhắc về thời điểm tiến hành.

Theo bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Quản lý chính sách tiền tệ của NHNN, thời gian gần đây tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và thế giới có nhiều thuận lợi. Hoạt động giải ngân FDI tăng mạnh, chỉ số quản trị mua hàng PMI hai tháng liên tiếp trên mức 50 điểm. Lạm phát tháng 2 tăng thấp trong khi CPI tháng 3 cũng dự báo tăng thấp, tối đa là 0,2%. Như vậy CPI quý 1 nhiều khả năng chỉ tăng ở 1,5% so với cuối năm 2013, thấp hơn rất nhiều so với quý 1 nhiều năm trở lại đây. Điều này cho thấy lạm phát có thể ổn định ở mức thấp, nhiều khả năng dưới 7% trong năm 2014.

Về hoạt động ngân hàng, trong hai tháng đầu năm, NHNN đã đưa ra một lượng tiền đồng lớn để mua ngoại tệ, làm tăng dự trữ ngoại tệ. Đồng thời hút tiền về qua tín phiếu trên kênh thị trường mở. Tính đến 13/3, huy động vốn toàn hệ thống tăng 1,92% so với cuối năm 2013.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất giảm và ổn định ở mức khá thấp. Lãi suất qua đêm chỉ từ 2 - 2,5%/tháng. Lãi suất huy động cho vay bằng ngoại tệ, ổn định. Về thanh khoản VND của các ngân hàng cũng khá ổn định và dư thừa. Tỷ lệ tín dụng/huy động vốn giảm khá mạnh xuống dưới 90%. Các tổ chức tín dụng không còn khó khăn về thanh khoản, tiếp tục mua trái phiếu Chính phủ (TPCP), tín phiếu kho bạc và TPCP bảo lãnh để tăng dự trữ đệm.

Hệ thống TCTD đã mua một lượng TPCP lớn. Tính đến nay, lượng trái phiếu Kho bạc, TPCP bảo lãnh đã phát hành được 78.000 tỷ đồng trên hơn 90.000 tỷ đồng chào bán, đạt tỷ lệ thành công trên 78%. Lãi suất của trái phiếu cũng giảm mạnh so với những phiên đầu năm, cho thấy niềm tin của thị trường đối với việc ổn định lãi suất trung và dài hạn.

Tính đến ngày 13/3, tín dụng toàn hệ thống giảm 1,05% so với cuối năm 2013. Tuy nhiên chỉ trong 13 ngày đầu tháng 3, tín dụng đã tăng 0,13% so với ngày 28/2, dấu hiệu cho thấy tín dụng đang ấm dần trở lại sau 2 tháng âm đầu năm.

Đây là những cơ sở để NHNN quyết định giảm các lãi suất, bắt đầu từ ngày mai (18/3). Cùng với việc giảm lãi suất, NHNN cũng sẽ tập trung các giải pháp điều hành tăng trưởng tín dụng, để đạt mức tăng trưởng tín dụng cả năm là 12 – 14%.

Gửi tiền vẫn là kênh hiệu quả

Theo ông Nguyễn Đồng Tiến, việc giảm lãi suất huy động sẽ là cơ sở để các TCTD giảm lãi suất cho vay phù hợp mặt bằng lãi suất mới. Mặc dù, NHNN không quy định trần lãi suất cho vay mà để các ngân hàng xem xét cụ thể từng dự án vay, dựa trên luồng tiền và khả năng trả nợ của khách hàng.

Trả lời câu hỏi liệu giảm lãi suất huy động có làm giảm mức huy động vốn, ông Tiến cho rằng đây cũng là một khả năng, nhưng với điều kiện thị trường hiện nay thì mức lãi suất này vẫn hấp dẫn với người gửi tiền, số dư tiền gửi thực tế vẫn gia tăng.

“Chúng tôi cho rằng, đối với những nhà đầu tư, việc gửi tiền đồng vào ngân hàng vẫn là kênh an toàn hiệu quả”, ông Tiến cho biết./.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/9): USD biến động nhẹ, DXY neo trên 100 điểm trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (23/9): USD biến động nhẹ, DXY neo trên 100 điểm trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 23/9, Ngân hàng Nhà nước hạ tỷ giá trung tâm 5 đồng, xuống 25.635 đồng/USD, các ngân hàng giữ tỷ giá ổn định. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng lên 100,54 điểm, thị trường thận trọng chờ tiến triển giữa Mỹ - Iran quanh eo biển Hormuz, cùng diễn biến từ Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

(TBTCO) - Khoảng 2 triệu người tại Việt Nam đang có việc làm thông qua các nền tảng số, nhưng chỉ khoảng 1/5 lao động được khảo sát tham gia bảo hiểm xã hội. Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách theo hướng linh hoạt, phù hợp hơn với đặc điểm việc làm và thu nhập của lao động nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Ngày 21/9/2026, VietinBank và Finviet đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược (MOU - Memorandum of Understanding) nhằm xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh tại Việt Nam.
VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 ▲60K 14,510 ▲60K
Trang sức 99.99 13,920 ▲60K 14,520 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲6K 14,552 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲6K 14,553 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1272K 145 ▼1299K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1272K 1,451 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cập nhật: 23/09/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17872 18146 18727
CAD 17918 18193 18809
CHF 30949 31326 31968
CNY 0 3833 3928
EUR 29041 29260 30349
GBP 33769 34158 35104
HKD 0 3182 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14503 15090
SGD 19803 20084 20654
THB 697 760 813
USD (1,2) 25723 0 0
USD (5,10,20) 25762 0 0
USD (50,100) 25790 25804 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,109 29,132 30,514
JPY 160.34 160.63 170.38
GBP 33,977 34,069 35,261
AUD 18,115 18,180 18,874
CAD 18,108 18,166 18,835
CHF 31,235 31,332 32,259
SGD 19,938 20,000 20,793
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.71 18.47 20.1
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,495 14,630 15,070
SEK - 2,591 2,685
DKK - 3,904 4,042
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,958.4 - 6,728.7
TWD 739.4 - 895.83
SAR - 6,802.09 7,165.12
KWD - 82,284 87,558
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 29,145 29,262 30,460
GBP 33,995 34,132 35,154
HKD 3,246 3,259 3,376
CHF 31,100 31,225 32,170
JPY 160.94 161.59 169.57
AUD 18,119 18,192 18,784
SGD 20,017 20,097 20,687
THB 763 766 804
CAD 18,123 18,196 18,784
NZD 14,585 15,126
KRW 18.40 20.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26155
AUD 18049 18149 19071
CAD 18083 18183 19198
CHF 31170 31200 32793
CNY 3812.6 3837.6 3973.1
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29209 29239 30962
GBP 34040 34090 35864
HKD 0 3315 0
JPY 161.12 161.62 172.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14596 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19949 20079 20802
THB 0 726.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,716 25,836 26,210
USD20 25,686 25,836 26,210
USD1 25,666 25,836 26,210
AUD 18,188 18,288 19,397
EUR 29,098 29,198 30,864
CAD 18,074 18,174 19,487
SGD 20,082 20,232 20,801
JPY 161.98 163.48 169.08
GBP 34,058 34,208 35,281
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/09/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30