Chưa xuất hiện áp lực đáng kể có thể ảnh hưởng đến lãi suất

Chí Tín
(TBTCO) - Mặc dù tỷ giá vẫn diễn biến khá phức tạp và Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện các phiên bán tín phiếu hút tiền trên thị trường mở, tuy nhiên, lãi suất tín phiếu vẫn ở mức khá thấp so với giai đoạn giữa năm 2024 và lãi suất liên ngân hàng cũng vẫn còn khoảng cách xa so với trần lãi suất. Theo đó, bối cảnh thị trường hiện chưa có áp lực đáng kể gì đối với mặt bằng lãi suất ngoài thị trường dân cư.
aa
Chưa xuất hiện áp lực đáng kể có thể ảnh hưởng đến lãi suất
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Phương Anh

Tỷ giá chững lại, nhưng còn neo cao

Sau chu kỳ “tăng dựng đứng” suốt hơn 3 tuần đầu tháng 10, tỷ giá đồng Việt Nam so với USD cuối tuần đã có một chút chững lại đà tăng. Cụ thể, tỷ giá trung tâm hôm 25/10 ghi nhận ở mức 24.255 đồng/USD, giảm 5 đồng mỗi USD so với ngày hôm trước. Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra do Vietcombank công bố sáng ngày 25/10 là 25.467 đồng/USD, cũng đã giảm 6 đồng mỗi USD so với hôm 24/10.

Chưa xuất hiện áp lực đáng kể có thể ảnh hưởng đến lãi suất

Giải ngân vốn FDI là yếu tố có thể giải nhiệt cho tỷ giá

"Tỷ giá có thể có những giai đoạn biến động, nhưng cũng cần xem xét đó là chu kỳ ngắn hạn hay trung hạn và dài hạn. Tỷ giá thời gian qua có tăng nhưng đó cũng là yếu tố chu kỳ, nhưng yếu tố tích cực là cuối năm có thể có nguồn tiền kiều hối hỗ trợ, đồng thời, tình hình tăng trưởng giai ngân vốn FDI cũng hỗ trợ tốt cho việc cân đối ngoại tệ". TS.Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh

Diễn biến tỷ giá VND/USD trong nước khá đồng nhịp với diễn biến của chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD trên thị trường quốc tế. Chỉ số này sau khi đạt đỉnh vào hôm 23/10 đã có một nhịp điều chỉnh giảm, đến sáng ngày 25/10 theo giờ Việt Nam đã về mốc 104,06 điểm. Mặt bằng của chỉ số DXY theo đó tuy vẫn ở mức khá cao (trên 104 điểm), nhưng cũng đã hạ nhiệt so với mức đỉnh 104,57 điểm được thiết lập trước đó 2 hôm.

Đến thời điểm hiện tại, tỷ giá VND/USD trên thị trường chính thức mặc dù đã tạm thời ngừng tăng, nhưng đã thiết lập mặt bằng cao hơn khá nhiều so với đầu tháng 10. Cụ thể, tỷ giá trung tâm đã tăng khoảng 0,7%; tỷ giá bán ra tại Vietcombank đã tăng 2,8%. Điều đáng chú ý là trong ngày 25/10, tỷ giá chính thức của ngân hàng đã điều chỉnh giảm, nhưng tỷ giá thị trường tự do vẫn tiếp tục tăng thêm 240 đồng mỗi Đô la so với hôm trước, cán mốc 25.800 đồng mỗi USD bán ra. So với thời điểm đầu tháng 10, tỷ giá thị trường tự do cũng đã tăng khoảng 2,7%.

Ở góc độ điều hành thị trường tiền tệ, trước sức nóng của tỷ giá diễn ra trong 3 tuần đầu tháng 10, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã kích hoạt trạng thái bán tín phiếu trên thị trường mở kể từ hôm 18/10. Cụ thể, cơ quan điều hành tiền tệ đã bán 12,3 nghìn tỷ đồng tín phiếu vào hôm 18/10, bán 21,65 nghìn tỷ đồng tín phiếu vào hôm 21/10, bán 12,45 nghìn tỷ đồng vào 22/10, bán 12,8 nghìn tỷ đồng vào 23/10, bán 3,24 nghìn tỷ đồng vào 24/10…

Chưa gây áp lực đến lãi suất

Động thái bán tín phiếu của NHNN có tác dụng hút bớt tiền từ hệ thống ngân hàng thương mại về NHNN và việc này thường có tác dụng làm giảm lượng cung tiền trong hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, việc hút tiền sẽ chưa thể gây tác động làm tăng lãi suất bởi mức độ hút tiền thời điểm này vẫn chỉ ở trạng thái nhẹ, đặc biệt lãi suất tín phiếu trong giai đoạn này cũng vẫn duy trì thấp hơn khá nhiều so với giữa năm 2024. TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, trước thời điểm bán tín phiếu đợt này, NHNN cũng đã có một số giai đoạn mua tín phiếu để bơm tiền vào hệ thống ngân hàng trong quý III/2024. Do đó, đợt hút tiền lần này cũng có thể được hiểu là hành động mang tính điều tiết để cân đối nguồn vốn hợp lý trong hệ thống.

Ngoài ra, quan sát diễn biến lãi suất tín phiếu trong các phiên bán tín phiếu vừa qua của NHNN có thể thấy mặt bằng lãi suất tín phiếu cũng đang khá thấp so với vài tháng trước. Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 28 ngày chỉ là 4%, còn lại suất kỳ hạn 14 ngày trong một số phiên đầu bán tín phiếu là 3,74% và trong một số phiên sau đã giảm xuống có phiên chỉ còn 3,6%. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất tín phiếu trên thị trường mở thời điểm cao nhất hồi giữa năm 2024 là 4,25% ở cả chiều mua và chiều bán.

Tại thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất cho vay qua đêm hiện cũng không cho thấy xuất hiện diễn biến căng thẳng về thanh khoản với mặt bằng hiện duy trì ở mức chỉ khoảng 3,75%, vẫn thấp hơn khá nhiều so với trần lãi suất 5% theo quy định hiện hành của NHNN.

Trong khi đó, đánh giá về diễn biến trung hạn của chu kỳ lãi suất, một số chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, nền kinh tế đang trong giai đoạn phục hồi tốt và “nội lực” của nền kinh tế có thể cân bằng các yếu tố vĩ mô, trong đó có tỷ giá và lãi suất.

Mới đây tại Hội thảo “Bất động sản phía Nam vượt qua thách thức và đón đầu cơ hội”, ông Nguyễn Xuân Thành - Giảng viên Đại học Fulbright cho biết, tăng trưởng kinh tế đang được thúc đẩy bởi 3 yếu tố chính là tăng trưởng công nghiệp hướng vào xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư công.

Ông Thành dự báo, mức lạm phát kiểm soát năm 2024 nằm trong khoảng 3%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu là 4-4,5%. Về chính sách tiền tệ và tín dụng, theo ông Thành, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) và nhiều ngân hàng trung ương đã bước vào chu kỳ giảm lãi suất điều hành. “Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì ở trạng thái nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, dự báo mặt bằng lãi suất sẽ giảm 0,7% trong năm tới” - ông Thành nói./.

Chí Tín

Đọc thêm

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Shinhan Bank lãi trước thuế 2.589,8 tỷ đồng, với nhiều nguồn thu cốt lõi tăng trưởng; dư nợ cho vay khách hàng tăng 6,2%, đạt 167.638 tỷ đồng. Các chỉ tiêu an toàn được duy trì tích cực với CAR ở mức 20,7% và tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,55%.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,600
Hà Nội - PNJ 143,200 146,600
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,600
Miền Tây - PNJ 143,200 146,600
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,600
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 09/09/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18200 18475 19054
CAD 18273 18549 19170
CHF 31356 31735 32375
CNY 0 3829 3925
EUR 29533 29754 30837
GBP 34334 34725 35666
HKD 0 3182 3385
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14864 15451
SGD 19978 20260 20831
THB 704 767 821
USD (1,2) 25714 0 0
USD (5,10,20) 25753 0 0
USD (50,100) 25781 25795 26165
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 29,556 29,580 30,985
JPY 163.9 164.2 174.14
GBP 34,487 34,580 35,777
AUD 18,376 18,442 19,141
CAD 18,460 18,519 19,201
CHF 31,587 31,685 32,619
SGD 20,081 20,143 20,934
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 751.43 760.71 814.53
NZD 14,837 14,975 15,420
SEK - 2,654 2,748
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,755 2,856
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,972.09 - 6,745.09
TWD 743.37 - 900.65
SAR - 6,796.45 7,159.27
KWD - 82,408 87,691
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,632 29,751 30,944
GBP 34,534 34,673 35,704
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,559 31,686 32,611
JPY 164.77 165.43 173.41
AUD 18,387 18,461 19,058
SGD 20,172 20,253 20,850
THB 769 772 809
CAD 18,495 18,569 19,165
NZD 14,973 15,516
KRW 18.46 20.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 18377 18477 19402
CAD 18468 18568 19582
CHF 31607 31637 33211
CNY 3810.3 3835.3 3970.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29714 29744 31469
GBP 34638 34688 36440
HKD 0 3330 0
JPY 165.27 165.77 176.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14977 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20140 20270 20991
THB 0 733.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 09/09/2026 02:00
Ngân hàng