Động thái tiền tệ trước cuộc họp FED tháng 7

Chí Tín
(TBTCO) - Còn ít ngày nữa, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ có cuộc họp thường kỳ cuối tháng 7. Giới tài chính quốc tế dự báo sẽ chưa có động thái về điều chỉnh lãi suất sau kỳ họp này, nhưng thông điệp của FED trong cuộc họp này có thể sẽ có nhiều ý nghĩa với thị trường tài chính quốc tế và qua đó cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thị trường Việt Nam.
aa
Động thái tiền tệ trước cuộc họp FED tháng 7

Sáng 18/7, chỉ số DXY (đo lường sức mạnh của đồng USD) ở mức 103,78 điểm, giảm mạnh so với trước đó. Ảnh tư liệu

Nhiều thay đổi vĩ mô trước cuộc họp tháng 7

Trước khi cuộc họp của FED diễn ra, các số liệu kinh tế vĩ mô của Mỹ xuất hiện nhiều thay đổi theo chiều hướng sự kỳ vọng về các đợt hạ lãi suất của FED được củng cố chắc chắn hơn.

Dữ liệu kinh tế vĩ mô của Mỹ mới công bố cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ trong tháng 6 đã tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,3% so với tháng 5. CPI tháng 6 được dự báo tăng 3,1%. CPI lõi (không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng) đã tăng 3,3% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn so với mức dự báo 3,4% và mức tăng 3,4% được thấy trong báo cáo tháng 5.

Chỉ số DXY giảm mạnh

Sau khi số liệu CPI tháng 6 của Mỹ được công bố, chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng Đô la Mỹ đã giảm mạnh trong những ngày qua. Cụ thể, thời điểm cuối tháng 6 và đầu tháng 7, chỉ số này vẫn ở mức trên 105 điểm, nhưng hiện tại đã rơi về chỉ ngưỡng dưới 104 điểm. Tại thời điểm sáng 18/7, chỉ số này ghi nhận ở mức 103,78 điểm.

Những số liệu vĩ mô về sự hạ nhiệt lạm phát khiến cho các nhà đầu tư liên tưởng đến các lập trường của FED đưa ra trước đây, khi Chủ tịch Powell thường nhắc lại quan điểm rằng FED sẽ phụ thuộc vào dữ liệu để đưa ra các quyết định về lãi suất.

Trở lại các dữ liệu vĩ mô tháng 6 của Mỹ, Báo cáo kinh tế cung cấp cho Cục Dự trữ Liên bang bằng chứng bổ sung về sự suy giảm lạm phát mà Chủ tịch Powell nhấn mạnh là cần thiết để bắt đầu cắt giảm lãi suất trong các phiên điều trần gần đây của ông trước Quốc hội. Dữ liệu cho thấy FED đang tiến gần hơn đến mục tiêu đưa lạm phát xuống mức 2%.

Đặc biệt, giai đoạn này cũng là thời điểm sắp đến phiên họp thường kỳ của FED dự kiến diễn ra ngày 31/7 tới. Hiện nay giới tài chính cũng chưa đặt nhiều kỳ vọng về việc FED sẽ đưa ra quyết định hạ lãi suất ngay trong tháng 7 này khi công cụ FEDWatch đưa ra dự báo có tới trên 95% khả năng FED vẫn giữ lãi suất 5,25 - 5,5% như hiện nay sau cuộc họp tháng 7. Mặc dù vậy, thị trường vẫn chờ đợi khá nhiều về các diễn biến cuộc họp bởi các quan điểm và thông điệp tại cuộc họp này cũng có nhiều ý nghĩa để giới tài chính dự báo về các động thái thời gian tới.

Tăng kỳ vọng và các tác động trong nước

Giới tài chính kỳ vọng nếu lạm phát tiếp tục có tín hiệu tích cực khác vào tháng 7 và tháng 8 có thể thúc đẩy FED nới lỏng chính sách tiền tệ với nhiều hơn 1 lần hạ lãi suất trong năm 2024. Công cụ FED Watch tại thời điểm chiều ngày 18/7 đưa ra tỷ lệ dự báo xác suất lên tới hơn 94% khả năng FED cắt giảm lãi suất xuống mức 5 - 5,25% vào phiên họp tháng 9. Ngoài ra, FEDWatch đưa ra số liệu cho thấy tỷ lệ xác suất đạt xấp xỉ 60% khả năng FED có thể sẽ hạ lãi suất xuống mức 4,75 - 5% vào cuộc họp tháng 11.

Với những dữ liệu hiện tại thì kỳ vọng về khả năng FED hạ lãi suất đang có xu hướng lạc quan hơn so với thời kỳ hơn 1 tháng trước đây, khi có nhiều hy vọng cho thấy việc FED có thể thực hiện 2 đợt hạ lãi suất trong thời gian còn lại của năm 2024. Trước đó, sau cuộc họp của FED tháng 6, các mô hình dự báo thời điểm đó vẫn nghiêng về khả năng FED có thể sẽ chỉ hạ lãi suất 1 lần trong năm 2024.

Bình luận về tác động của việc FED giảm lãi suất đối với thị trường tài chính trong nước, các chuyên gia kinh tế cho rằng, việc này có thể khiến cho đồng Đô la Mỹ giảm và qua đó sẽ giảm áp lực đối với tỷ giá trong nước. TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV cho biết, khi FED cắt giảm lãi suất thì đó là yếu tố kỳ vọng khiến cho các đồng tiền trên thế giới có thể tăng giá so với đồng Đô la Mỹ, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng có chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, ngay cả kịch bản FED hạ lãi suất thì đó cũng chưa hẳn là kịch bản lạc quan hoàn toàn. Ông Nguyễn Bá Hùng - Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng ADB tại Việt Nam cho biết, FED sẽ cân nhắc giảm lãi suất khi họ thấy nền kinh tế có dấu hiệu suy yếu. Tuy nhiên, điều đó xảy ra cũng đồng nghĩa là tổng cầu của nền kinh tế Mỹ sụt giảm, trong khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, ông Hùng cho biết giải pháp cần làm đối với Việt Nam là ngoài việc quan sát động thái của Mỹ xem họ làm gì thì cũng quan tâm đến các yếu tố khơi thông thị trường nội địa, kích thích đầu tư và tiêu dùng nội địa./.

Chí Tín

Đọc thêm

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

(TBTCO) - Kết thúc quý đầu tiên của năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (mã Ck: NCB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng mạnh. Theo đó, quý I/2026, lãi trước thuế của ngân hàng đạt hơn 216 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 43% so với quý I/2025.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với 6.107 tỷ đồng lợi nhuận, ROE đạt 24,29% và CAR đạt 16,16%, tiếp tục ghi nhận hiệu quả ở nhóm đầu ngành trên nền tảng vốn mạnh và quản trị chặt chẽ.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 ▲50K 16,600 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▲50K 15,400 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▲50K 15,350 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲50K 16,450 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲50K 16,400 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲50K 16,380 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 01/05/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/05/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80