ECB hạ lãi suất và những ảnh hưởng tới thị trường trong nước

Chí Tín
(TBTCO) - Việc Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) đã hạ lãi suất điều hành trong tháng 6/2024 cho thấy nhiều tín hiệu tích cực, thể hiện chu kỳ nới lỏng tiền tệ đang hiện hữu. Tuy nhiên trong ngắn hạn, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) chưa hạ lãi suất có thể khiến cho đồng USD có khả năng tăng giá trở lại và ít nhiều ảnh hưởng tỷ giá VND.
aa
ECB hạ lãi suất và những ảnh hưởng tới thị trường trong nước
Tỷ giá USD sau chu kỳ hạ nhiệt đã có tín hiệu nhích tăng trở lại trong những ngày gần đây. Ảnh tư liệu

ECB đã không lệ thuộc FED

Vừa qua, ECB đã chính thức cắt giảm lãi suất từ 4,5% xuống 4,25% và đây cũng là hành động giảm lãi suất của ngân hàng này lần đầu tiên sau 8 năm. ECB theo đó cũng đã hiện thực hóa tuyên bố của mình về việc họ sẽ hành động mà không phụ thuộc vào động thái của FED.

Trước ECB, hành động của một số ngân hàng trung ương trên thế giới thời gian gần đây cũng cho thấy họ đã có những quan điểm độc lập trong quyết định của mình. Cụ thể, Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ (SNB) đã điều chỉnh giảm 0,25% lãi suất vào hồi tháng 3/2024, tiếp đó là Ngân hàng Trung ương Thụy Điển (Riksbank) cũng đã hạ lãi suất từ 4% xuống 3,75% và cho biết, sẽ cắt giảm thêm nếu lạm phát duy trì ở mức vừa phải.

Đây được coi là một xu hướng có tính chất đa cực hơn trong quan điểm điều hành chính sách tiền tệ của các quốc gia, thay vì xu hướng chủ yếu tăng lãi suất hồi năm 2022. Thời kỳ đó, sau các đợt tăng lãi suất liên tục của FED, nhiều ngân hàng trung ương khác cũng chịu áp lực phải tăng lãi suất theo FED để đảm bảo đồng tiền của quốc gia họ không bị mất giá trước đồng USD.

Đặc biệt, xu hướng đa cực có thể không chỉ trong góc độ tài chính mà còn có thể xuất hiện trên bình diện rộng, cả góc độ chính trị, môi trường, ngoại giao… và từ đó tác động trở lại kinh tế. Đánh giá về vấn đề này, TS.Lê Xuân Nghĩa - Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia cho biết, sự biến đổi của thế giới sẽ chính là nhân tố mới của sự bình thường mới trong giai đoạn tới. Với xu hướng đa cực này, dần dần các nước lớn sẽ đi đến các đàm phán để giải quyết xung đột chính trị đang diễn ra, cũng như bàn thảo các vấn đề chống biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, cũng theo ông Nghĩa, ở góc độ tài chính, xu hướng tiền tệ sẽ dần chuyển dịch từ một đồng tiền thống trị và có ảnh hưởng lớn sang việc “phân tán quyền lực” bởi nhiều đồng tiền khác nhau.

Những tác động với tiền tệ trong nước

 Tỷ giá tăng tác động như thế nào tới nền kinh tế? ảnh 3

Trở lại câu chuyện hạ lãi suất của ECB và một số quốc gia châu Âu khác, một số chuyên gia kinh tế cho biết, việc ảnh hưởng đến thị trường tài chính tiền tệ của Việt Nam tuy không lớn do đây mới chỉ là những động thái bước đầu và mức độ điều chỉnh nhẹ, nhưng ít nhiều cũng vẫn có những tác động ở thương mại và tỷ giá.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng Bộ môn Thị trường tài chính thuộc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, việc giảm lãi suất của một số quốc gia về ngắn hạn làm cho đồng tiền các nước đó giảm giá trên thị trường quốc tế và vì thế, hàng hóa của các doanh nghiệp từ nước ngoài – trong đó có Việt Nam - xuất khẩu vào các thị trường sẽ có giá đắt hơn sau khi quy đổi tỷ giá. Tuy nhiên về dài hạn, động thái này cũng có tác dụng kích thích tiêu dùng tại các quốc gia đó, từ đó về mặt trung hạn cũng là yếu tố tích cực cho giao lưu thương mại.

Ngoài ra, một trong những yếu tố có thể được đặt ra là giá đồng USD có thể tăng trong bối cảnh FED chưa hạ lãi suất. Diễn biến chỉ số DXY trong những ngày qua cũng đã có dấu hiệu nhích tăng lên mức trên 105 điểm, trước đó hồi cuối tháng 5 và đầu tháng 6/2024, chỉ số này có lúc đã về chỉ còn hơn 104 điểm.

DXY là chỉ số đo lường sức mạnh đồng USD, được tính toán từ tỷ giá hối đoái của 6 đồng tiền tệ khác. Trong đó, đồng EUR của châu Âu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tạo nên chỉ số với 57,6%. Các đồng tiền khác gồm đồng Yên Nhật chiếm tỷ 13,6%, đồng Bảng Anh chiếm 11,9%, đồng Đô la Canada chiếm 9,1%. Hai đồng tiền SEK của Thụy Điển và CHF của Thụy Sỹ lần lượt chiếm 4,2% và 3,6%.

Với việc đồng DXY tăng giá trên thị trường quốc tế bắt nguồn từ hành động hạ lãi suất của ECB, tỷ giá VND so với USD ít nhiều cũng đối diện một số áp lực. Tuy nhiên theo ông Huân, điều này cũng còn liên quan đến quan điểm điều hành của Việt Nam trong việc có cần neo tỷ giá theo đồng USD hay không. Theo đó, nếu Việt Nam neo giá đồng Việt Nam theo đồng USD thì tỷ giá VND/USD giữ ổn định, nhưng sẽ làm cho đồng tiền Việt Nam tăng giá so với các đồng tiền châu Âu, dẫn đến hàng Việt Nam xuất khẩu sang châu Âu gặp khó hơn. Trong khi đó, Việt Nam để đồng tiền của mình mất giá theo các đồng tiền châu Âu thì cũng sẽ làm tỷ giá so với USD tăng. Việc này diễn ra trong một mức độ vừa phải cũng không có nhiều ảnh hưởng lớn, nhưng nếu tỷ giá VND/USD tăng quá mức có thể có những tác động khác nhau đến kinh tế vĩ mô.

Tỷ giá VND/USD nhích tăng trở lại

Tỷ giá VND/USD sau chu kỳ hạ nhiệt chút ít trong tuần đầu tháng 6, đã có tín hiệu nhích tăng trở lại trong những ngày gần đây.

Tỷ giá trung tâm ngày thứ hai (10/6) được Ngân hàng Nhà nước công bố mức 24.242 VND/USD, tăng nhẹ so với 24.241 VND/USD cuối tuần trước và tiếp tục đà tăng thêm 8 VND/USD trong ngày 11/6 lên mức 24.250 VND/USD. Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán USD của Vietcombank sáng ngày 11/6 là 25.462 VND/USD, tăng 8 VND/USD so với hôm đầu tuần và tăng 9 VND/USD so với cuối tuần trước.

Chí Tín

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 145,500
Hà Nội - PNJ 142,400 145,500
Đà Nẵng - PNJ 142,400 145,500
Miền Tây - PNJ 142,400 145,500
Tây Nguyên - PNJ 142,400 145,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 145,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 14,560
Miếng SJC Nghệ An 14,260 14,560
Miếng SJC Thái Bình 14,260 14,560
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 14,610
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 14,520
Trang sức 99.99 13,930 14,530
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 14,562
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 14,563
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 1,451
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 1,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 142,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 108,236
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 98,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 8,806
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 84,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 60,246
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cập nhật: 15/09/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17986 18260 18837
CAD 18163 18439 19061
CHF 31136 31514 32158
CNY 0 3830 3927
EUR 29352 29573 30653
GBP 34232 34623 35564
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14687 15275
SGD 19900 20182 20762
THB 697 760 813
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25802 25802 26162
AUD 18165 18265 19187
CAD 18350 18450 19464
CHF 31398 31428 33010
CNY 3812.8 3837.8 3973
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29541 29571 31294
GBP 34545 34595 36352
HKD 0 3305 0
JPY 164.62 165.12 175.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14794 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20062 20192 20923
THB 0 725.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 15/09/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30