Khu công nghiệp thế hệ mới không thể chỉ xây “hạ tầng cứng” rồi chờ doanh nghiệp xanh hóa
Một khu công nghiệp hiện đại không chỉ nằm ở hạ tầng hoàn thiện, mà ở cách quy hoạch đồng bộ các dòng chảy nguyên liệu, năng lượng, nước, chất thải, dữ liệu và logistics. Khi hoạt động như một hệ thống liên kết, chất thải của doanh nghiệp này sẽ là đầu vào của doanh nghiệp khác, nước được tái sử dụng, năng lượng tái tạo được tích hợp và dữ liệu phát thải được chia sẻ để cùng giảm carbon.
Đó cũng là cách tiếp cận được đặt ra qua những chia sẻ của các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển khu công nghiệp, sản xuất và logistics tại Diễn đàn Bất động sản công nghiệp Việt Nam (VIPF) lần thứ 6 - năm 2026.
Quy hoạch phải nhìn vào chuỗi giá trị
Theo ông Đào Nguyên Khánh - Trưởng Bộ phận Phát triển Bền vững và Truyền thông Doanh nghiệp, INSEE Việt Nam, cộng sinh công nghiệp là việc khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng phụ phẩm của ngành công nghiệp khác làm đầu vào cho quy trình sản xuất, qua đó thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Tại INSEE, xỉ thép từ ngành sản xuất thép, tro bay từ các nhà máy nhiệt điện và các dòng chất thải phù hợp từ nhiều ngành nghề khác được sử dụng làm nguyên nhiên liệu thay thế. Từ thực tế này, ông Khánh cho rằng quy hoạch KCN cần hiểu rõ chuỗi giá trị và mối tương quan giữa các ngành nghề để bố trí các ngành đi cùng nhau một cách phù hợp.
Nhà cung cấp ở gần giúp hình thành chuỗi cung ứng đáng tin cậy, giảm chi phí vận hành và giảm lượng phát thải từ hoạt động vận chuyển.
“Khi nhà quy hoạch hiểu rõ chuỗi giá trị, việc bố trí không gian KCN sẽ phát huy tối đa hiệu quả cộng sinh” - ông Khánh nói.
Với những KCN đã được xây dựng, bài toán khó hơn bởi vị trí nhà máy đã cố định. Tuy nhiên, vẫn có thể xử lý dưới góc độ logistics và chuỗi cung ứng.
Một giải pháp được ông Khánh đề xuất là quy hoạch các trung tâm phân loại và trung chuyển dòng chất thải theo mô hình MRF tại vị trí trung gian giữa 2-3 KCN lân cận. Chất thải được tập trung, phân loại bởi doanh nghiệp chuyên trách; những dòng phù hợp có thể được bán hoặc cung cấp cho các nhà máy có nhu cầu sử dụng làm nguyên liệu đầu vào.
Đây cũng là vai trò lớn của Nhà nước trong việc quy hoạch hạ tầng kết nối.
![]() |
| Phiên Đối thoại giải pháp: giải pháp tạo lợi thế cạnh tranh cho KCN thế hệ mới tại Diễn đàn Bất động sản công nghiệp Việt Nam (VIPF) lần thứ 6 - năm 2026. Ảnh: Lê Toàn |
Còn TS. Nguyễn Trâm Anh - Quản lý Dự án Quốc gia, Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu (GEIPP) tại Việt Nam, Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), cho rằng trước hết cần xác định thế nào là “khu công nghiệp thế hệ mới”. Đây có thể là một “hệ sinh thái sản xuất”, trong đó hoạt động sản xuất phải đảm bảo nguyên tắc kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn và tăng cường tính chống chịu trước các áp lực bên ngoài.
Mô hình này đồng thời phải có yếu tố đổi mới sáng tạo, tích hợp Big Data, AI và quản lý theo cơ sở số, hướng tới các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường.
Theo TS. Trâm Anh, bốn trụ cột cần được tích hợp ngay từ khâu quy hoạch gồm năng lượng; hạ tầng cộng sinh công nghiệp và tuần hoàn nước; quản trị carbon và chia sẻ dữ liệu; hạ tầng logistics.
Trong đó, năng lượng tái tạo phải được đặt lên hàng đầu ngay từ khi đưa KCN vào quy hoạch. Với các ngành sản xuất mới như bán dẫn, điện tử và công nghệ cao, vấn đề không chỉ là có năng lượng tái tạo mà còn phải đảm bảo chất lượng và tính bền vững của nguồn năng lượng.
Nước cũng được đặt vào vị trí ngày càng quan trọng. Hiện Việt Nam chưa thiếu nước nghiêm trọng, nhưng trong tương lai nước sẽ là yếu tố quyết định; nếu thiếu nước, sản xuất sẽ phải ngừng trệ. Vì vậy, hạ tầng xử lý và tái sử dụng nước phải được đầu tư và xử lý tới nơi tới chốn.
Không chỉ xanh hóa mà phải tính cho 100 năm
Nếu quy hoạch là điểm khởi đầu, thì năng lực thích ứng sẽ quyết định một KCN có thể tồn tại bao lâu trước những thay đổi của công nghệ và nhu cầu sản xuất.
Ông Prescott Gaylord - Giám đốc Phát triển bền vững khối Kho vận, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Công ty DSV, cho rằng tính thích ứng là yếu tố then chốt của KCN tương lai.
Thị trường sản xuất đang xuất hiện những nhu cầu mới. Các nhà sản xuất muốn phi carbon hóa chuỗi cung ứng, chẳng hạn chuyển sang xe tải điện, sẽ cần hạ tầng trạm sạc. Nếu KCN chỉ đáp ứng những tiêu chuẩn của hiện tại, hạ tầng sẽ nhanh chóng dừng ở mức tối thiểu. Ngược lại, việc thiết kế ở mức cao hơn có thể tạo khả năng tiếp nhận các ngành như trung tâm dữ liệu hay công nghệ pin thế hệ mới.
Theo ông Gaylord, khác biệt cốt lõi nằm ở cách chủ đầu tư xác định vòng đời của công trình: thiết kế cho 10, 50 hay 100 năm, tức phục vụ 3-4 thế hệ doanh nghiệp với những nhu cầu chưa thể lường trước. Thay vì chỉ chạy theo chứng nhận Gold hay Platinum, câu hỏi được đặt ra là: “Điều gì sẽ làm cho thế giới tốt đẹp hơn?”.
Từ góc nhìn này, phát triển bền vững không chỉ là thêm một lớp tiêu chuẩn vào một dự án đã được thiết kế. Nó bắt đầu từ cách đặt bài toán.
Ông Gaylord dẫn lại một bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008. Khi triển khai các dự án “sẵn sàng thi công”, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ đặt câu hỏi với các nhà phát triển liệu chuẩn LEED có làm tăng ngân sách hay không. Hầu hết cho rằng họ hoàn toàn có thể xây đúng diện tích theo chuẩn LEED mà không tốn thêm chi phí. Lý do họ không đề xuất từ trước, theo ông, rất đơn giản: chưa từng có ai yêu cầu.
“Rào cản của thiết kế sinh thái không phải là chi phí, mà là việc chúng ta không tư duy sinh thái ngay từ đầu” - ông Gaylord nhấn mạnh.
Ông Gaylord cũng cho rằng, không nên để các chuyên gia bền vững dành toàn bộ thời gian thu thập số liệu và làm báo cáo thủ công. Dữ liệu phải giúp phát hiện lãng phí và hỗ trợ ra quyết định tốt hơn. Vậy nên, vận hành xuất sắc là dùng ít tài nguyên hơn để tạo ra nhiều giá trị hơn.
Ở cấp độ rộng hơn, cộng sinh công nghiệp cũng không nên dừng lại bên trong hàng rào nhà máy. Với tầm nhìn 100-150 năm, ông Gaylord đề nghị mở rộng cộng sinh ra hệ sinh thái tự nhiên và cộng đồng dân cư xung quanh. KCN cần tôn trọng chu trình nước tự nhiên, giữ cho hệ sinh thái xung quanh sống động; đồng thời những lối đi an toàn, hòa nhập với cộng đồng có thể giúp KCN chống chịu tốt hơn và bền vững trong dài hạn.
![]() |
| Tại phiên đối thoại gải pháp, các chuyên gia tập trung làm rõ hệ sinh thái nào sẽ giúp biến chiến lược phát triển KCN thế hệ mới thành năng lực vận hành bền vững thực sự?. Ảnh: Lê Toàn |
Tuy nhiên, khoảng cách từ định hướng đến triển khai vẫn còn lớn. TS. Trâm Anh chỉ ra những khó khăn về chính sách pháp lý, sự thiếu rõ ràng của các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật đối với tái chế, sử dụng chất thải/phế liệu cho cộng sinh công nghiệp, cùng tình trạng thủ tục hành chính trùng lặp. Bên cạnh đó là sự thiếu hụt các chính sách ưu tiên, ưu đãi đủ hấp dẫn đối với KCN sinh thái và cộng đồng doanh nghiệp tham gia.
Trong khi chờ những thay đổi lớn về “hạ tầng cứng”, ông Đào Nguyên Khánh cho rằng doanh nghiệp và KCN vẫn có thể bắt đầu bằng “hạ tầng mềm”. Nếu chỉ chọn một hành động thực chất trong 12 tháng tới.
Ông Khánh đề xuất, các KCN và doanh nghiệp đặt ra mục tiêu chung về quản trị, trong đó thực hiện 100% việc đánh giá bộ quy tắc ứng xử dành cho các nhà cung cấp dịch vụ và đánh giá một cách thực chất.
Theo ông Khánh, khi các doanh nghiệp cùng thực hiện, cả chuỗi giá trị sẽ có chung một tầm nhìn và cùng chịu sức ép để chuyển động theo một hướng. Trong khi đó, những dự án hạ tầng cứng như hệ thống xử lý nước thải có thể cần nhiều thời gian cho đầu tư, quy hoạch và thủ tục cấp phép. Vì vậy, trong mốc 12 tháng, cần tập trung vào quản trị và thực thi đánh giá toàn bộ nhà cung cấp là hướng đi khả thi nhất.
Tóm lại, bài toán của KCN thế hệ mới không dừng ở một công trình xanh hay vài chứng nhận, mà bắt đầu từ quy hoạch chuỗi giá trị, hạ tầng thích ứng, chia sẻ dữ liệu và mạng lưới cộng sinh vượt ranh giới từng nhà máy. Khi sản xuất thay đổi nhanh hơn vòng đời dự án bất động sản, năng lực nhìn trước nhu cầu và thiết kế cho những điều chưa xảy ra chính là giá trị cốt lõi của hạ tầng./.





