Thị trường tiền tệ tuần 18-22.12:

Quan tâm các yếu tố phát triển ổn định, thị trường vàng “nổi sóng”

Chí Tín
(TBTCO) - Nhiều hoạt động liên quan thị trường tiền tệ tuần theo hướng tập trung vào sự phát triển ổn định, lâu dài, trong đó có chỉ đạo của Thủ tướng về thí điểm chấm điểm khả tín. Trong khi đó, các chuyên gia ngân hàng cũng có những bàn thảo về tín dụng xanh, các hoạt động phòng chống rửa tiền... Ngoài ra, một trong những động thái nổi bật là diễn biến nổi sóng của giá vàng trong nước với kỷ lục mới về giá đã được thiết lập.
aa

Thí điểm chấm điểm khả tín

Nội dung chú ý liên quan đến tín dụng ngân hàng trong tuần vừa qua là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về chấm điểm khả tín. Đây là một trong những ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng tại cuộc họp Đề án 06 về “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”.

Xây dựng Luật Bảo vệ Dữ liệu cá nhân

Bộ Công an nghiên cứu, tham mưu đề xuất xây dựng Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, cố gắng hoàn thành trong năm 2024; xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc sử dụng dữ liệu công dân qua khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm đúng mục đích, chống lộ lọt dữ liệu, cố gắng hoàn thành trong quý II/2024.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phối hợp Bộ Công an tiếp tục tích cực triển khai giải pháp chấm điểm khả tín để người dân tiếp cận với nguồn vốn tín dụng nhanh chóng, hiệu quả. Triển khai thí điểm tại Vietcombank đầu năm 2024.

Thủ tướng cũng yêu cầu UBND 15 địa phương (An Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Thuận, Cần Thơ, Đà Nẵng, Đắk Nông, Hải Phòng, Kiên Giang, Phú Yên, Sóc Trăng, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, Trà Vinh) trình HĐND cùng cấp có chính sách miễn, giảm phí, lệ phí sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến, hoàn thành trước tháng 6/2024.

Quan tâm các yếu tố phát triển ổn định, thị trường vàng “nổi sóng”
Các yếu tố phát triển bền vững đang được quan tâm nhiều hơn. Ảnh: T.L
Lạm phát tạm thời hạ nhiệt, nhưng các yếu tố tiềm ẩn vẫn còn Phát triển lành mạnh thị trường bất động sản là chìa khóa hỗ trợ ổn định kinh tế

Gắn mục tiêu ESG trong phát triển dịch vụ ngân hàng

Các mục tiêu ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị) được NHNN đặt mối quan tâm khi đưa ra thảo luận nhằm kết nối với hoạt động ngân hàng nhiều hơn.

Theo TS. Phạm Minh Tú - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng (NHNN), động lực để các ngân hàng tích cực thực thi ESG đến từ nhiều yếu tố, từ việc các quy định về ESG có xu hướng ngày càng gia tăng. Sự gia tăng trong nhận thức và mối quan tâm về các yếu tố ESG từ các bên liên quan đòi hỏi ngân hàng nắm bắt và quản lý các yếu tố “vô hình” trong hoạt động kinh doanh.

Bên cạnh đó, tích hợp ESG vào mô hình kinh doanh giúp đón đầu xu thế quốc tế, làm tăng lợi thế cạnh tranh; quản trị ESG giúp gia tăng hình ảnh và phòng tránh các rủi ro danh tiếng; rủi ro ESG có thể ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị tài sản, tình hình tài chính, hoặc uy tín của ngân hàng. Do đó, việc thực thi ESG sẽ giúp quản trị được rủi ro.

Để các ngân hàng tích cực thực thi ESG trong thời gian tới, bà Michele Wee - Tổng Giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam cho rằng, Chính phủ, các bộ, ngành ở Việt Nam cần tiếp tục đồng hành, phối hợp hài hòa trong xây dựng và hoàn thiện các khung pháp lý cụ thể về tín dụng xanh, cũng như các dự án đầu tư kinh doanh có tác động đến môi trường. Các ngân hàng thương mại có thể sử dụng các tiêu chuẩn này để áp dụng chung nhằm đánh giá khi cấp tín dụng xanh.

Nâng cao cảnh giác với tội phạm rửa tiền

Một trong những nội dung được các chuyên gia nhấn mạnh hơn trong tuần qua là các vấn đề về phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Cần thực nghiêm túc các quy định pháp luật để đảm bảo bịt các kẽ hở

Các chuyên gia cho rằng, việc thực thi pháp luật liên quan đến hoạt động phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt càng phải hiệu quả và chặt chẽ. Điều này đòi hỏi không chỉ khung khổ pháp luật cần phải được hoàn thiện mà hoạt động tuân thủ pháp luật của các cá nhân, tổ chức và các cơ quan thi hành cần phải được thực hiện một cách hiệu quả hơn.

Tại Hội thảo quốc gia về “Rủi ro rửa tiền và tài trợ khủng bố đối với các sản phẩm tài chính toàn diện”, các chuyên gia tài chính cho rằng, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, các giao dịch xuyên biên giới ngày càng phát triển, hoạt động phòng chống rửa tiền ngày càng trở lên quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh - Học viên Ngân hàng cho biết, các ngân hàng thương mại đẩy mạnh chuyển đổi số để đem đến những dịch vụ tốt hơn cho khách hàng, nhưng chính họ cũng bày tỏ lo ngại do bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội cả trong nước và quốc tế có nhiều biến động, đang đặt ra nhiều thách thức về rủi ro tuân thủ tài chính.

Đồng thời, nhiều loại hình tội phạm tài chính mới xuất hiện dẫn đến nguy cơ các tổ chức tín dụng bị lợi dụng. Vì vậy, tính cấp thiết của công tác phòng chống rửa tiền, tội phạm tài chính luôn cần được đặt lên hàng đầu.

Tỷ giá tăng vào giữa tuần

Tỷ giá có xu hướng tăng vào giữa tuần nhưng sau đó lại quay đầu giảm vào cuối tuần. Công bố tỷ giá trung tâm của NHNN hôm thứ hai đầu tuần ở 23.883 đồng/USD, sau đó tăng liên tiếp 2 ngày liền và đạt đỉnh hôm thứ tư với mức 23.938 đồng/USD. Tuy nhiên, tỷ giá trung tâm được điều chỉnh giảm trong 2 ngày cuối tuần và dừng ở mức 23.915 đồng/USD vào hôm thứ sáu.

Xu hướng tương tự cũng diễn ra với tỷ giá niêm yết tại ngân hàng thương mại. Vietcombank công bố tỷ giá bán ra hôm thứ hai đầu tuần ở mức 24.480 đồng/USD. Sau khi tăng lên mức 24.515 đồng/USD thì tỷ giá tại Vietcombank dần điều chỉnh giảm trong các phiên cuối tuần vàv quay về mức chỉ còn 24.420 đồng/USD vào hôm thứ Sáu.

Diễn biến tỷ giá trong giai đoạn tới có thể cho thấy sẽ chưa có những đột biến rõ rệt do đồng USD trên thị trường quốc tế hiện vẫn khá yếu. Chỉ số DXY đo lượng sức mạnh của đồng USD hiện đã về mức chỉ còn hơn 101 điểm.

Quan tâm các yếu tố phát triển ổn định, thị trường vàng “nổi sóng”
Giá vàng trong nước liên tục thiết lập các kỷ lục mới. Ảnh: T.L

Giá vàng trong nước bùng nổ

Giá vàng tuần qua ghi nhận một giai đoạn bùng nổ với những kỷ lục mới. Tại thị trường thế giới, giá vàng có một tuần diễn biến theo xu hướng tăng, khi mở đầu tuần ở mức 2.023,5 USD/ounce và leo lên mốc 2.045,5 USD/ounce vào hôm thứ sáu cuối tuần.

Bầu không khí với thị trường vàng thực sự sôi động ở thị trường trong nước. Đầu tuần, vàng miếng SJC 9999 ghi nhận mức giá 73,3 triệu đồng/lượng mua vào và 74,32 triệu đồng/lượng bán ra và duy trì nhịp tăng trong các phiên sau đó.

Cuối tuần là thời điểm ghi nhận “sức nóng” với giá vàng khi vàng SJC 9999 bứt phá thiết lập kỷ lục mới ghi tăng lên mức 74,6 triệu đồng/lượng mua vào và 75,62 triệu đồng/lượng bán ra vào hôm 21/12 và tiếp tục thiết lập kỷ lục mới bật tăng lên mặt bằng mới với 76,2 triệu đồng/lượng mua vào và 77,22 triệu đồng/lượng bán ra vào sáng ngày 22/12.

Hiện tại, dòng tiền “đổ bộ” vào vàng một phần do xu hướng chung của giá vàng thế giới tăng, một phần do các kênh đầu tư khác trong nước hiện đều bị tắc nghẽn. Lãi suất tiền gửi ngân hàng hiện đã giảm về mức rất thấp, trong khi bất động sản vẫn chưa cho thấy tín hiệu khởi sắc, còn thị trường chứng khoán vẫn chịu áp lực bán ròng mạnh của các nhà đầu tư nước ngoài./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Hà Nội - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đà Nẵng - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Miền Tây - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Tây Nguyên - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Nghệ An 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Thái Bình 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 ▼110K 14,400 ▼110K
Trang sức 99.99 13,810 ▼110K 14,410 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 ▼11K 14,442 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 ▼11K 14,443 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 ▲1267K 1,439 ▲1294K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 ▲1267K 144 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 ▼11K 1,429 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 ▼1089K 141,485 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 ▼825K 107,336 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 ▲78704K 97,332 ▲87524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 ▼671K 87,328 ▼671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 ▲66238K 83,469 ▲75058K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 ▼459K 59,745 ▼459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cập nhật: 24/09/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17737 18010 18586
CAD 17884 18158 18774
CHF 30769 31146 31793
CNY 0 3829 3925
EUR 28931 29150 30231
GBP 33583 33971 34909
HKD 0 3183 3386
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14428 15015
SGD 19774 20056 20626
THB 692 755 808
USD (1,2) 25729 0 0
USD (5,10,20) 25768 0 0
USD (50,100) 25796 25810 26180
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,026 29,049 30,427
JPY 159.64 159.93 169.61
GBP 33,816 33,908 35,082
AUD 17,958 18,023 18,706
CAD 18,087 18,145 18,815
CHF 31,197 31,294 32,216
SGD 19,900 19,962 20,744
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.51 18.26 19.88
THB 741.95 751.11 804.23
NZD 14,445 14,579 15,012
SEK - 2,580 2,671
DKK - 3,893 4,031
NOK - 2,696 2,792
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,957.79 - 6,724.66
TWD 737.34 - 892.76
SAR - 6,805.45 7,168.62
KWD - 82,209 87,477
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,042 29,159 30,368
GBP 33,798 33,934 34,953
HKD 3,249 3,262 3,379
CHF 30,994 31,118 32,057
JPY 160.62 161.27 169.23
AUD 17,952 18,024 18,616
SGD 19,963 20,043 20,633
THB 758 761 799
CAD 18,106 18,179 18,769
NZD 14,522 15,063
KRW 18.15 20.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25815 25815 26175
AUD 17927 18027 18950
CAD 18076 18176 19190
CHF 31010 31040 32621
CNY 3811.8 3836.8 3972.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29112 29142 30867
GBP 33873 33923 35694
HKD 0 3315 0
JPY 160.21 160.71 171.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14537 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19929 20059 20780
THB 0 721.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,705 25,825 26,500
USD20 25,675 25,825 26,500
USD1 25,655 25,825 26,500
AUD 17,969 18,069 19,175
EUR 28,922 29,022 30,682
CAD 18,026 18,126 19,434
SGD 20,002 20,152 20,710
JPY 161.41 162.91 168.48
GBP 33,802 33,952 35,295
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 758 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/09/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30