Thị trường tiền tệ tuần sau nghỉ Tết:

Tỷ giá nhích tăng, vàng biến động theo giá thế giới

Chí Tín
(TBTCO) - Sau kỳ nghỉ Tết, tỷ giá có xu hướng nhích tăng nhẹ trong khi giá vàng trong nước có sự biến động giảm nhẹ và tăng trở lại cùng với xu hướng biến động chung của giá vàng thế giới.
aa

Các hoạt động thanh toán thông suốt dịp Tết

Tuần quan ghi nhận thời gian nghỉ Tết Giáp Thìn kéo dài 8 ngày, cho đến kết thúc kỳ nghỉ, các hoạt động thanh toán trực tuyến của người dân vẫn diễn ra thông suốt.

Trước thời điểm nghỉ Tết, Ngân hàng Nhà nước đã có Công điện 01/CĐ1-NHNN về đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, với việc đặt mục tiêu hàng đầu là đảm bảo hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng ổn định, an toàn và thông suốt. Theo đó, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) đã tăng cường triển khai các giải pháp về kỹ thuật, vận hành, sẵn sàng đáp ứng tốc độ tăng trưởng về số lượng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt của người dân.

Tỷ giá nhích tăng, vàng biến động theo giá thế giới
Các ngân hàng đã mở cửa hoạt động trở lại sau đợt nghỉ Tết. Ảnh: T.L
Xăng dầu đồng loạt tăng giá theo đà tăng thị trường thế giới

Vào cuộc sau nghỉ Tết

Sau nghỉ Tết, các hoạt động tín dụng tiền tệ đã nhập cuộc trở lại, trong đó, lãnh đạo ngành Ngân hàng cũng xác định những bối cảnh bao gồm cả thời cơ và khó khăn trong giai đoạn sắp tới.

Tại buổi gặp mặt đầu xuân sau kỳ nghỉ Tết Giáp Thìn 2024, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, năm 2024 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025.

Triển khai các giải pháp đẩy mạnh tín dụng ngay từ đầu năm

Trong tháng 2/2024, Ngân hàng Nhà nước đã có công văn số 1088/NHNN- CSTT ban hành ngày 7/2/2024 về việc tăng trưởng tín dụng năm 2024 gửi các tổ chức tín dụng, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Trong đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng quyết liệt triển khai các giải pháp tăng trưởng tín dụng đúng, trúng mục tiêu ngay từ đầu năm, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả.

Trong bối cảnh dự báo tình hình kinh tế thế giới và trong nước sẽ tiếp tục còn nhiều khó khăn, thách thức, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ngành Ngân hàng phát huy mạnh mẽ hơn nữa bản lĩnh, trí tuệ để cùng đồng hành, chia sẻ và nỗ lực, quyết tâm khắc phục, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ.

Thủ tướng chỉ đạo điều hành thị trường tiền tệ

Ngay sau kỳ nghỉ Tết, Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-TTg về việc đôn đốc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán Giáp Thìn 2024, trong đó có một phần nội dung về điều hành thị trường tiền tệ.

Chỉ thị 06 yêu cầu Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, hài hoà với chính sách tài khoá mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách khác góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và hệ thống ngân hàng.

Bổ nhiệm nhiều vị trí quan trọng

Ngay sau đợt nghỉ Tết, Ngân hàng Nhà nước cũng đã công bố các quyết định bổ nhiệm đối với một số vị trí quan trọng trong bộ máy của ngành Ngân hàng.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trao Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước bổ nhiệm thành viên chuyên trách Hội đồng quản lý Trung tâm thông tin tín dụng; công bố Quyết định của Thống đốc về việc điều động và bổ nhiệm Phó Vụ trưởng Vụ II, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng; công bố và trao Quyết định của Thống đốc về việc điều động và bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng Thành viên Nhà máy In tiền Quốc gia.

Tỷ giá nhích tăng

Sau kỳ nghỉ Tết, tỷ giá có xu hướng nhích tăng với giá USD bán ra tại Vietcombank hôm 15/2 ghi nhận ở mức 24.610 đồng/USD, tăng cao hơn khoảng 40 đồng mỗi Đô la so với hôm cuối cùng trước kỳ nghỉ. Tiếp đó, tỷ giá bán ra tại Vietcombank tiếp tục tăng thêm 50 đồng mỗi Đô la lên 24.660 đồng/USD.

Số liệu xuất nhập khẩu tháng 1/2024 cho thấy đều có sự tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Theo Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 1/2024 đạt 33,57 tỷ USD, tăng 42% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 1/2024 ước đạt 30,65 tỷ USD, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa tháng 1/2024 xuất siêu 2,92 tỷ USD.

Tuy nhiên, sự tăng trưởng mạnh của xuất nhập khẩu trong tháng 1/2024 so với cùng kỳ năm ngoái chưa phản ánh được rõ ràng xu hướng của hoạt động thương mại bởi tháng 1/2023 là giai đoạn nền kinh tế nghỉ Tết nguyên đán, trong khi kỳ nghỉ Tết năm 2024 rơi vào tháng 2. Trong khi đó, một trong những yếu tố có thể giảm nguồn cung ngoại tệ trong giai đoạn sắp tới là nguồn kiều hối thường tăng mạnh trong giai đoạn trước Tết, nhưng sau đó sẽ chững lại sau Tết.

Tỷ giá nhích tăng, vàng biến động theo giá thế giới
Giá vàng thế giới mất mốc 2.000 USD/ounce, nhưng sau đó phục hồi trở lại. Ảnh: T.L

Giá vàng biến động nhẹ

Giá vàng trong những ngày sau nghỉ Tết có những động thái biến động nhẹ, có thời điểm giảm giá vào ngày đầu tiên đi làm, nhưng sau đó lại nhúch nhích tăng giá trở lại.

Tại thời điểm chiều ngày 16/2, giá vàng miếng SJC 9999 ghi nhận ở mức 76,6 triệu đồng/lượng mua vào và 78,8 triệu đồng/lượng bán ra. Mặt bằng giá này thấp hơn chút ít so với thời điểm trước kỳ nghỉ Tết.

Trên thị trường thế giới, giá vàng giảm vào ngày 15/2, khi có lúc lùi về chỉ còn 1.990 USD/ounce. Tuy nhiên, thị trường vàng thế giới phục hồi trở lại vào ngày 16/2 và lấy lại mốc 2.000 USD/ounce. Đến chiều ngày 16/2 theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới giao dịch ở mức khoảng 2.003 USD/ounce.

Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Một trong những giải pháp các ngân hàng đặt ra trong mục tiêu thời gian tới là đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ tín dụng ngân hàng phù hợp từng phân đoạn khách hàng và thị trường, loại hình, nhu cầu sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, nhất là các nhu cầu vay vốn chính đáng, hợp pháp phục vụ đời sống, tiêu dùng của người dân. Các ngân hàng cũng đặt mục tiêu truyền thông kịp thời, rõ ràng, đầy đủ, chính xác về các chính sách, sản phẩm, dịch vụ của tổ chức tín dụng để giúp người dân, doanh nghiệp hiểu rõ và qua đó góp phần thúc đẩy Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 146,600
Hà Nội - PNJ 143,600 146,600
Đà Nẵng - PNJ 143,600 146,600
Miền Tây - PNJ 143,600 146,600
Tây Nguyên - PNJ 143,600 146,600
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 146,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 14,660
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 22/09/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17951 18225 18801
CAD 17997 18272 18890
CHF 31047 31425 32067
CNY 0 3843 3939
EUR 29196 29416 30495
GBP 33967 34357 35302
HKD 0 3185 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14517 15105
SGD 19850 20132 20699
THB 698 761 814
USD (1,2) 25757 0 0
USD (5,10,20) 25796 0 0
USD (50,100) 25824 25838 26204
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,252 29,275 30,661
JPY 160.8 161.09 170.82
GBP 34,163 34,255 35,442
AUD 18,176 18,242 18,931
CAD 18,191 18,249 18,923
CHF 31,306 31,403 32,331
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,811 3,957
HKD 3,249 3,259 3,396
KRW 17.61 18.37 20
THB 746.77 755.99 808.96
NZD 14,510 14,645 15,084
SEK - 2,598 2,692
DKK - 3,923 4,062
NOK - 2,709 2,805
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 741.52 - 898.38
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26200
AUD 18173 18273 19204
CAD 18188 18288 19302
CHF 31291 31321 32903
CNY 3825 3850 3985.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29386 29416 31138
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3305 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14653 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20009 20139 20860
THB 0 727.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,717 25,837 26,200
USD20 25,687 25,837 26,200
USD1 25,667 25,837 26,200
AUD 18,227 18,327 19,435
EUR 29,188 29,288 30,948
CAD 18,150 18,250 19,558
SGD 20,088 20,238 20,793
JPY 162.61 164.11 169.64
GBP 34,182 34,332 35,710
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/09/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30