FDI không chỉ đến, mà gắn bó tạo giá trị lan tỏa cho nền kinh tế
PV: Nghị quyết 10-NQ/TW nhấn mạnh thu hút FDI có chọn lọc, không thu hút FDI bằng mọi giá. Việt Nam sẽ cụ thể hóa định hướng này bằng những tiêu chí lựa chọn dự án nào? và đâu là những yếu tố được ưu tiên trong giai đoạn tới, thưa bà?
![]() |
| Bà Bùi Thu Thủy |
Bà Bùi Thu Thuỷ: Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định nhất quán quan điểm không thu hút đầu tư bằng mọi giá, mà phải lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước và đóng góp cho sự phát triển bền vững làm tiêu chí hàng đầu trong lựa chọn nhà đầu tư. Ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu và phát triển, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, năng lượng sạch và các ngành có khả năng tạo động lực tăng trưởng mới. Kiên quyết không đánh đổi môi trường, tiến bộ xã hội và lợi ích lâu dài của đất nước để lấy tăng trưởng trước mắt.
Nhằm thể chế hóa quan điểm đó, hiện nay Bộ Tài chính đang nghiên cứu báo cáo Chính phủ trình Quốc hội dự thảo Luật sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư. Theo đó, đã quy định rõ các tiêu chí, điều kiện và nguyên tắc để ưu tiên lựa chọn các dự án FDI có công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, liên kết với doanh nghiệp trong nước, đóng góp vào chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Các dự án FDI muốn hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cần đáp ứng các tiêu chí, điều kiện và cam kết cụ thể; có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các yêu cầu, điều kiện và cam kết đã đăng ký; báo cáo định kỳ việc thực hiện cam kết hàng quý, hàng năm. Mức ưu đãi doanh nghiệp được hưởng phụ thuộc vào mức độ đáp ứng các tiêu chí, điều kiện, mức độ thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Dự thảo Luật cũng quy định cơ chế hậu kiểm, thu hồi ưu đãi nếu nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết. Mục tiêu xuyên suốt như ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là “FDI không chỉ đến Việt Nam, mà phải gắn bó, đóng góp thực chất vào năng lực sản xuất, công nghệ, quản trị và dần nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu”.
![]() |
| Sản xuất thấu kính tại nhà máy R Technical 100% vốn Nhật Bản. Ảnh: Đức Thanh |
PV: Một trong những mục tiêu quan trọng của thu hút FDI thế hệ mới là tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ góc độ cơ quan quản lý, theo bà, đâu là những “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay khiến mức độ liên kết này chưa tương xứng với tiềm năng?
Bà Bùi Thu Thuỷ: Dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng mạnh về số lượng nhưng chưa tương xứng về chất lượng. Dù Việt Nam liên tục nằm trong nhóm thu hút FDI hàng đầu nhưng phần lớn các dự án tập trung vào các lĩnh vực gia công, lắp ráp; tỷ lệ dự án công nghệ cao, quy mô lớn, có tác động lan tỏa và liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước còn khiêm tốn so với mục tiêu, kỳ vọng; dẫn đến mức đóng góp thực chất của khu vực này vào GDP còn chưa tương xứng.
Thực tiễn cho thấy, tại Việt Nam tỷ lệ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI vẫn ở mức rất thấp và chậm cải thiện qua các giai đoạn. Theo số liệu từ Bộ Khoa học và Công nghệ, các hoạt động chuyển giao chủ yếu xoay quanh hỗ trợ kỹ thuật (77%), đào tạo (71%) và quy trình sản xuất (73%), trong khi chuyển giao tài sản sở hữu trí tuệ chỉ chiếm 13%. Thực trạng này hạn chế khả năng hấp thụ và cải tiến công nghệ của doanh nghiệp trong nước - yếu tố then chốt để thúc đẩy tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ nội sinh.
Việc hạn chế nêu trên được đánh giá là xuất phát từ cả hai phía:
Thứ nhất, từ góc độ doanh nghiệp FDI: các doanh nghiệp FDI khi đầu tư sang Việt Nam thường mang theo hệ sinh thái nhà cung cấp và không sẵn sàng mở rộng các nhà cung cấp mới cho các doanh nghiệp nội địa. Đồng thời các doanh nghiệp FDI chưa thực sự tin tưởng ở năng lực cung cấp của doanh nghiệp trong nước.
Thứ hai, năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn khoảng cách khá lớn so với yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia về công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng cung ứng. Các chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực cho doanh nghiệp trong nước quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, phát triển ngành đã được ban hành nhưng quá trình triển khai còn hạn chế, năng lực hệ thống hỗ trợ doanh nghiệp từ trung ương đến địa phương và các hiệp hội chưa đạt như kỳ vọng, chưa trọng tâm trọng điểm vào đúng những doanh nghiệp đủ năng lực kết nối... dẫn đến hiệu quả chưa cao.
| Theo Cục Đầu tư nước ngoài, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam 9 tháng năm 2026 đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế đến tháng 9/2026, Việt Nam đã thu hút trên 571 tỷ USD vốn FDI đăng ký, với hơn 48.100 dự án còn hiệu lực. |
Thứ ba, cơ chế khuyến khích, ưu đãi thoả đáng để tăng liên kết giữa FDI và đầu tư trong nước còn chưa phát huy được hiệu quả và chưa đáp ứng yêu cầu. Chính phủ đã ban hành Quyết định 29/2021/QĐ-TTg về ưu đãi đầu tư đặc biệt trong đó đã quy định mức ưu đãi cao nhất (thuế Thu nhập doanh nghiệp 5% trong 37 năm) đối với các doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng… Nghị định 182/2024/NĐ-CP về Quỹ hỗ trợ đầu tư cũng đang triển khai để hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư dự án trong lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, AI,… Tuy nhiên, do là chính sách mới nên quá trình triển khai chưa đạt được tiến độ mong muốn của nhà đầu tư.
Thứ tư, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và R&D còn manh mún, năng lực và trình độ của doanh nghiệp trong nước còn yếu dẫn đến khả năng hấp thụ công nghệ và liên kết với doanh nghiệp FDI còn hạn chế. Cơ sở hạ tầng (gồm cả hạ tầng cứng và mềm) chưa đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao làm hạn chế thu hút dòng vốn chất lượng cao từ các nền kinh tế phát triển.
PV: Vậy Nghị quyết 10/NQ-TW sẽ tạo ra những cơ chế gì để thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước và nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt, thưa bà?
Bà Bùi Thu Thuỷ: Nhằm khắc phục các hạn chế nêu trên, Nghị quyết 10-NQ/TW yêu cầu có giải pháp hiệu quả để thúc đẩy các doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ, đào tạo người Việt Nam, tăng tỉ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa...
Thể chế hóa Nghị quyết, trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia (Malaysia, Singapore, Ấn Độ..), Bộ Tài chính đang nghiên cứu báo cáo Chính phủ trình Quốc hội dự thảo Luật sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư trong đó đã bổ sung các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt để thu hút các dự án công nghệ cao, công nghệ chiến lược, các cơ chế ưu đãi vượt trội để khuyến khích doanh nghiệp FDI thực hiện hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, đào tạo, phát triển nhà cung ứng trong nước; liên kết với các viện, trường triển khai các dự án nghiên cứu và phát triển, đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực Việt Nam.
Bộ Tài chính cũng đã nghiên cứu trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định 182/2024/NĐ-CP về Quỹ hỗ trợ đầu tư trong đó cụ thể hóa các chính sách hỗ trợ đầu tư đặc biệt đối với các doanh nghiệp FDI có cam kết và thực hiện chuyển giao công nghệ, đào tạo người lao động Việt Nam và phát triển doanh nghiệp nội địa, dự kiến cũng sẽ được Chính phủ ban hành ngay sau khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư sửa đổi.
PV: Xin cảm ơn bà!




