Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng"

(TBTCO) - Hai ngày sau cuộc họp của Ngân hàng Nhà nước, làn sóng giảm lãi suất huy động lan rộng. Khảo sát ngày 21/10 ghi nhận ít nhất 24 ngân hàng hạ lãi suất kỳ hạn 12 tháng, mức giảm sâu nhất tới 0,9 điểm phần trăm. Tuy nhiên, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng", ước chiếm 3 - 5% dư nợ cho vay các ngân hàng, thay vì giảm đại trà.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2026 “Phất cờ lệnh” giảm lãi suất, ngân hàng dồn dập nhập cuộc
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

“Làn sóng” giảm lãi suất lan rộng, kỳ hạn trên 6 tháng dẫn sóng

Hai ngày sau cuộc họp của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng về việc giảm lãi suất, thị trường ghi nhận “làn sóng” điều chỉnh rõ nét hơn.

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết của gần 50 ngân hàng vào chiều ngày 21/10 cho thấy, số lượng ngân hàng giảm lãi suất đã tăng đáng kể so với ngày trước đó, trong đó phần lớn các nhà băng đồng loạt hạ 0,5 điểm phần trăm ở kỳ hạn 12 tháng.

Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Chỉ riêng kỳ hạn 12 tháng, dữ liệu khảo sát đã ghi nhận ít nhất 24 ngân hàng giảm lãi suất so với trước cuộc họp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ngân hàng chưa điều chỉnh biểu lãi suất niêm yết.

Đáng chú ý, KienlongBank có mức điều chỉnh mạnh nhất trong nhóm ngân hàng được thống kê, giảm tới 0,9 điểm phần trăm so với trước cuộc họp, đưa lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng xuống còn 5%/năm.

Tiếp đến, BVBank giảm 0,6 điểm phần trăm, xuống 6,05%/năm.

“Làn sóng” giảm lãi suất cũng lan rộng tại nhiều ngân hàng với mức điều chỉnh phổ biến 0,5 điểm phần trăm. Trong nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, hôm nay cả nhóm “big 4” gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank cùng đưa lãi suất kỳ hạn 12 tháng về 5,4%/năm.

Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, Bac A Bank niêm yết lãi suất kỳ hạn 12 tháng ở mức 6,6%/năm sau khi giảm 0,5 điểm phần trăm. OCB và PGBank cùng ở mức 6,2%/năm; MSB 6%/năm. Techcombank giảm 0,3 điểm phần trăm về 5,85%/năm.

Cùng mức giảm 0,5 điểm phần trăm, MB, Nam A Bank và NCB đưa lãi suất về 5,7%/năm; VietBank còn 5,5%/năm; SACOMBANK và TPBank cùng ở mức 5,4%/năm.

Ở nhóm có lãi suất thấp hơn, ACB và PVcomBank cùng niêm yết 4,8%/năm; GPBank 4,6%/năm và SeABank 4,3%/năm sau điều chỉnh...

Trái với “làn sóng” giảm lãi suất dồn dập ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, nhóm kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng ghi nhận những điều chỉnh khá thưa thớt.

Tại kỳ hạn 3 tháng, chỉ một số ngân hàng hạ lãi suất, trong đó SeABank giảm 0,5 điểm phần trăm, xuống 3,95%/năm; ACB giảm 0,4 điểm phần trăm, còn 4%/năm; PVcomBank giảm 0,25 điểm phần trăm, xuống 4,5%/năm và LPBank giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm, còn 4,2%/năm.

“Khoanh vùng” giảm lãi suất cho vay, không phải tất cả đều hưởng lợi

Diễn biến này xuất hiện ngay sau cuộc họp ngày 19/10, khi Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5 điểm phần trăm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời tuyệt đối không chạy đua tăng lãi suất huy động.

Yêu cầu hạ lãi suất huy động thực tế, không chỉ trên biểu niêm yết

Ngày 21/10, Ngân hàng Nhà nước ban hành Công văn số 9736/NHNN-CSTT, yêu cầu ngân hàng thương mại thực hiện giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới, đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong các tháng cuối năm 2026 so với mức lãi suất của chính ngân hàng thương mại tại kỳ báo cáo ngày 11/10/2026 - 20/10/2026.

Ở chiều cho vay, cơ quan điều hành yêu cầu các ngân hàng tập trung nguồn lực, tiết giảm chi phí hoạt động và chia sẻ lợi nhuận để giảm lãi suất thực chất cho khách hàng, trong đó ưu tiên giảm 1,5 - 2 điểm phần trăm đối với các khoản vay phục vụ sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.

Điểm đáng chú ý là yêu cầu giảm lãi suất lần này đi kèm các biện pháp giám sát và xử lý gắn trực tiếp với việc cắt giảm room tín dụng, hoặc yêu cầu áp dụng một số tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn mức quy định, tạo thêm sức ép để các ngân hàng sớm điều chỉnh biểu lãi suất.

Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ngân hàng thương mại thực hiện giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới. Ảnh minh họa.

Tuy nhiên, với thực tế vẫn còn nhiều ngân hàng chưa giảm lãi suất niêm yết, mức độ lan tỏa của đợt điều chỉnh này sẽ cần tiếp tục được theo dõi trong những ngày tới, đặc biệt là khả năng chuyển hóa việc giảm lãi suất huy động thành giảm lãi suất cho vay thực chất đối với doanh nghiệp và người dân.

Bởi “làn sóng” hạ lãi suất chưa chắc đã lan tới mọi người vay. Các gói ưu đãi hiện chủ yếu hướng vào sản xuất, kinh doanh, khách hàng ưu tiên hoặc khoản vay mới; trong khi người vay mua nhà, ô tô hay tiêu dùng... có thể vẫn đứng ngoài cuộc.

Ngoài ra, đằng sau những thông tin “giảm tới 2 điểm phần trăm” hay “lãi suất từ 5%/năm” thường là những điều kiện đi kèm về đối tượng, sản phẩm, dịch vụ và thời gian áp dụng. Nếu ưu đãi chỉ kéo dài 3 - 6 tháng đầu thì chỉ có thể giúp người vay nhẹ gánh trước mắt, nhưng áp lực trả nợ vẫn có nguy cơ quay lại khi lãi suất thả nổi được áp dụng.

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS), các ngân hàng sẽ giảm lãi suất cho vay có chọn lọc, tập trung vào sản xuất, kinh doanh và những lĩnh vực được Chính phủ ưu tiên.

Theo đó, biên lãi ròng (NIM) chịu tác động, nhưng chỉ ở một phần danh mục cho vay, đi kèm với việc gia tăng kiểm soát chất lượng tín dụng.

Cụ thể, mức giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm sẽ tập trung vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực Chính phủ khuyến khích như: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giáo dục, đào tạo và công nghiệp văn hóa... Qua đó, áp lực lãi vay đối với các lĩnh vực này sẽ được giảm bớt.

Trên thực tế, nhiều ngân hàng đã chủ động giảm lãi suất với các gói tín dụng được “khoanh vùng” theo từng nhóm khách hàng. SACOMBANK triển khai gói tín dụng lên tới 40.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 6% dư nợ, dành cho doanh nghiệp thuộc các ngành chủ lực, xuất nhập khẩu và doanh nghiệp FDI, với mức giảm 2%/năm.

Vietbank dành 3.000 tỷ đồng, tương đương 2,5% dư nợ, cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1,5%/năm.

BIDV tập trung vào các khoản vay ngắn hạn, quy mô 100.000 tỷ đồng, tương ứng 4% dư nợ...

Lợi nhuận ngân hàng dự kiến giảm 2 - 4%

Đánh giá tác động đến lợi nhuận các ngân hàng, TCBS ước tính nếu phần dư nợ được giảm lãi suất 1,5 - 2%/năm chiếm khoảng 3 - 5% tổng danh mục cho vay, NIM toàn ngành có thể giảm khoảng 0,03 - 0,07 điểm phần trăm, kéo lợi nhuận trước thuế giảm khoảng 2 - 4%. Tuy nhiên, việc giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động niêm yết có thể bù đắp một phần tác động này./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 12 - 16/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 8.188,63 tỷ đồng sau hai tuần hút mạnh trên 90.000 tỷ đồng, trong khi lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt ở các kỳ hạn ngắn. Thị trường ngoại hối diễn biến trái chiều khi USD thị trường tự do giảm 130 đồng, trong khi DXY mất mốc 102 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

(TBTCO) - Trước áp lực tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn và đồng USD mạnh lên, khiến nhiều đồng tiền mất giá 2 - 7%, Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, kết hợp nhiều công cụ, cân bằng tỷ giá và lãi suất. Lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 14,230
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,510 14,110
Trang sức 99.99 13,520 14,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 1,409
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 1,399
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 138,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 105,085
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 95,292
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 85,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 8,172
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 58,494
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 22/10/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17655 17928 18507
CAD 17885 18159 18778
CHF 30710 31086 31724
CNY 0 3830 3927
EUR 28413 28629 29720
GBP 33830 34219 35152
HKD 0 3164 3367
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14411 14996
SGD 19702 19984 20553
THB 685 748 801
USD (1,2) 25595 0 0
USD (5,10,20) 25634 0 0
USD (50,100) 25661 25675 26045
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,466 28,489 29,844
JPY 159.15 159.44 169.08
GBP 33,985 34,077 35,258
AUD 17,821 17,885 18,565
CAD 18,060 18,118 18,786
CHF 30,959 31,055 31,968
SGD 19,826 19,888 20,678
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,230 3,240 3,377
KRW 18.01 18.78 20.44
THB 733.02 742.07 794.12
NZD 14,368 14,501 14,933
SEK - 2,567 2,658
DKK - 3,818 3,954
NOK - 2,705 2,803
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,924.28 - 6,688.93
TWD 720.08 - 872.45
SAR - 6,779.95 7,142.82
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,790 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17819 17919 18842
CAD 18049 18149 19162
CHF 30923 30953 32530
CNY 3813.5 3838.5 3973.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28568 28598 30320
GBP 34139 34189 35960
HKD 0 3300 0
JPY 160.04 160.54 171.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19853 19983 20706
THB 0 714 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Cập nhật: 22/10/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30