"Phất cờ lệnh" giảm lãi suất, ngân hàng dồn dập nhập cuộc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất cho vay dâng cao đang gây nhiều áp lực đối với người vay. Bước vào chặng nước rút cuối năm, nhà điều hành liên tiếp "phất cờ lệnh", kéo theo hàng loạt ngân hàng giảm lãi suất tới 2%/năm để hỗ trợ nền kinh tế, song dư địa hạ lãi suất đến đâu vẫn là bài toán cân bằng giữa nhiều "biến số".
aa

Lãi suất cho vay dâng cao, áp lực trả nợ đè nặng

Thời gian gần đây, mặt bằng lãi suất cho vay ở mức cao với một bộ phận khách hàng, đặc biệt là các khoản vay áp dụng lãi suất thả nổi sau thời gian ưu đãi. Hầu hết khoản vay có lãi suất vượt 10%/năm, thậm chí có trường hợp lên sát 20%/năm, gây áp lực lớn lên chi phí tài chính và khả năng trả nợ của người vay. Đáng chú ý, với các khoản vay tín chấp, do không có tài sản bảo đảm, lãi suất lên tới 40 - 50%/năm.

Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý III/2026, tổng dư nợ vay của Kinh Bắc (KBC) đến ngày 30/9 vượt 33.800 tỷ đồng, tăng 18% (khoảng 5.200 tỷ đồng) so với cuối năm 2025, chủ yếu là nợ dài hạn. Trong đó, vay ngân hàng chiếm tới 96%, với nhiều khoản có lãi suất trên 10%/năm, làm gia tăng áp lực chi phí vốn khi doanh nghiệp tiếp tục triển khai các dự án.

Hàng loạt ngân hàng đồng loạt công bố chương trình giảm lãi suất. Ảnh: Đức Thanh

Trong đó, Kinh Bắc vay hơn 13.053 tỷ đồng tại VPBank - Hội sở Hà Nội, với lãi suất 12,6%/năm, được bảo đảm bằng quyền tài sản phát sinh từ dự án Khu đô thị và Dịch vụ Tràng Cát, cùng phần vốn góp tại công ty con. Bên cạnh đó, tổng công ty còn ghi nhận khoản vay 578,9 tỷ đồng tại VPBank với lãi suất lên tới 15,5%/năm, mức cao nhất trong các khoản vay ngân hàng được công bố...

Tại BIDV, doanh nghiệp cũng có nhiều khoản vay; trong đó, khoảng 1.587 tỷ đồng với lãi suất 9,5%/năm; khoản vay 933 tỷ đồng chịu lãi suất 11%/năm... Kinh Bắc còn ghi nhận khoản vay hợp vốn 5.360 tỷ đồng tại nhóm ngân hàng: Vietcombank, Agribank và SeABank, với lãi suất 10%/năm.

Quy mô vay nợ của Kinh Bắc tăng gần 13,6 lần, từ khoảng 2.500 tỷ đồng cuối năm 2018 lên hơn 33.800 tỷ đồng cuối quý III/2026, chủ yếu là vay ngân hàng. Theo đó, chi phí lãi vay 9 tháng đầu năm 2026 lên tới khoảng 920 tỷ đồng, cao hơn 35% so với cả năm 2025, chưa kể phần lãi vay được vốn hóa, cho thấy áp lực chi phí vốn ngày càng lớn.

Không chỉ doanh nghiệp, nhiều khách hàng cá nhân cũng đang chịu áp lực từ lãi suất vay cao. Chị N. (TP. Hồ Chí Minh) cho biết từng vay tín chấp 100 triệu đồng tại VPBank để phục vụ hoạt động kinh doanh, thời hạn 3 năm, với lãi suất lên tới 40%/năm.

Trong khi đó, một khách hàng vay mua ô tô kỳ hạn 7 năm ghi nhận lãi suất tăng từ 8% lên 18%/năm, chu kỳ điều chỉnh rút từ 12 tháng xuống 3 tháng làm gia tăng áp lực trả nợ.

Giảm lãi suất trong thế cân đối nhiều “biến số”

Theo PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, Đại học Kinh tế Quốc dân, khi lãi suất tăng lên, thậm chí tới 18%, dòng tiền trong lưu thông được hút về hệ thống ngân hàng, qua đó góp phần kéo giá cả xuống, kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho việc chống lạm phát là chi phí của nền kinh tế quá cao, doanh nghiệp, người vay tiền gặp nhiều khó khăn.

“Vấn đề lãi suất cũng phải được nhìn trong mục tiêu tăng trưởng dài hạn. Nếu kéo dài tình trạng lãi suất cao, doanh nghiệp không thể bứt lên, khả năng cạnh tranh suy giảm và mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ trở nên khó khăn. Bởi khi chính sách tiền tệ thắt chặt thì tăng trưởng khó có thể tăng mạnh. Vì vậy, cần nới nhẹ lãi suất, đồng thời đẩy mạnh chính sách tài khóa để thúc đẩy tăng trưởng GDP”, ông Lạng nhấn mạnh.

Cùng chung quan điểm, theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, cuộc đua lãi suất huy động có thể tạo ra một vòng xoáy mới đối với nền kinh tế. Khi lãi suất huy động tăng, chi phí vốn đầu vào của ngân hàng tăng theo, từ đó gây áp lực lên lãi suất cho vay. Điều này có thể làm giảm hiệu quả của chính sách hỗ trợ tăng trưởng, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn về dòng tiền và sức cầu thị trường chưa phục hồi hoàn toàn.

Trong bối cảnh chi phí vay vốn vẫn là gánh nặng đối với không ít doanh nghiệp và người dân, những ngày gần đây, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước liên tiếp đề nghị quyết liệt giảm mặt bằng lãi suất cho vay, nhất là trong giai đoạn nước rút cuối năm.

Tại cuộc họp với các tổ chức tín dụng đầu tuần, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh việc giảm lãi suất phải đi vào thực chất. Bên cạnh điều chỉnh chi phí huy động vốn, các ngân hàng cần chủ động tiết giảm chi phí hoạt động, chia sẻ lợi nhuận với khách hàng để tạo dư địa giảm lãi suất cho vay.

Thống đốc Phạm Đức Ấn cũng lưu ý, giảm lãi suất không thực hiện cào bằng, mà cần lựa chọn đúng đối tượng.

Tuy nhiên, việc giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ tăng trưởng GDP đang đặt ra bài toán cân đối giữa nhiều “biến số”, từ áp lực lạm phát khi CPI đã vượt 4,5%, biến động tỷ giá và chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn, đến yêu cầu bảo đảm thanh khoản ngân hàng, chi phí vốn và lợi ích của người gửi tiền...

Tìm điểm cân bằng khi giảm lãi suất đầu vào

Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank, nếu thực hiện giảm lãi suất không hợp lý cũng có thể tác động đến hành vi của người gửi tiền. Đấy là bài toán ngành ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại sẽ phối hợp với nhau chặt chẽ, để tìm ra một điểm phù hợp về lãi suất đầu vào hợp lý, từ đó, sẽ có lãi suất đầu ra hợp lý cho nền kinh tế.

Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank, ngân hàng sẽ phải quyết tâm thực hiện hai mục tiêu, đó là phân bổ đủ nguồn vốn cho các lĩnh vực ưu tiên; giảm chi phí, đặc biệt giảm lãi suất cho vay với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.

“Khó khăn lớn nhất hiện nay trong giảm lãi suất đó là làm thế nào để chúng ta giảm được lãi suất đầu vào. Bởi huy động lãi suất tiền gửi đầu vào cũng phải đảm bảo ở mức độ phù hợp, để đảm bảo lợi ích của người gửi tiền”, ông Tùng chia sẻ.

Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân, mục tiêu không phải là kéo lãi suất xuống bằng mọi giá, mà là duy trì một mặt bằng lãi suất đủ cao để ổn định, nhưng đủ thấp để tăng trưởng.

Điều này lý giải vì sao chính sách tiền tệ thời gian gần đây có trọng tâm, phân tầng lãi suất và tín dụng, không nới lỏng diện rộng như trước.

PGS. TS Nguyễn Thường Lạng cũng cho rằng, cần hạ lãi suất từng bước để tránh ảnh hưởng đến thanh khoản ngân hàng, tránh trường hợp người dân có thể rút tiền tiết kiệm để chuyển sang các kênh khác. Cùng với đó, việc giảm lãi suất cho vay có chọn lọc, phân bổ lại nguồn vốn trong nền kinh tế.

Ngoài ra, cần kết hợp các công cụ khác góp phần làm dịu mặt bằng lãi suất, giảm bớt yếu tố tâm lý và đưa nền kinh tế đến một điểm cân bằng hơn.

Ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất, ưu đãi có chọn lọc

Khi “cờ lệnh” giảm lãi suất được phất lên, hàng loạt ngân hàng đồng loạt công bố chương trình giảm lãi suất. Đơn cử, Đơn cử, Agribank giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, dành khoảng 2.000 tỷ đồng nguồn lực tài chính để triển khai. BIDV áp dụng lãi suất ưu đãi từ 6%/năm, thấp hơn tối đa 2%/năm so với thông thường, với quy mô hỗ trợ khoảng 100.000 tỷ đồng cho các khoản vay kỳ hạn đến 6 tháng. Ngân hàng dự kiến giảm khoảng 500 tỷ đồng thu nhập để thực hiện chương trình.

Vietcombank cam kết giảm tối thiểu 2% lãi suất cho vay đến cuối năm. MB giảm 1,5%/năm cho 5 lĩnh vực ưu tiên, đưa lãi suất xuống từ 7,9%/năm, một số trường hợp giảm tới 2%/năm.

ACB giảm 1,5 - 2%/năm cho doanh nghiệp, sau chương trình giảm 1% đã giải ngân khoảng 5.000 tỷ đồng. SACOMBANK triển khai gói 40.000 tỷ đồng, giảm 2%/năm, với lãi suất từ 8,5%/năm.

Đáng chú ý, “làn sóng” giảm lãi suất cho vay cho thấy không diễn ra đại trà, không “cào bằng” như chỉ đạo, mà chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, phục vụ sản xuất, kinh doanh, nhằm hỗ trợ tăng trưởng và cân đối chi phí vốn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Hà Nội - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Miền Tây - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
NL 99.99 13,150 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼50K
Trang sức 99.9 13,510 ▼20K 14,110 ▼20K
Trang sức 99.99 13,520 ▼20K 14,120 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 ▼3K 14,232 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 ▼3K 14,233 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 ▼3K 1,409 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 ▼3K 141 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 ▼3K 1,399 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 ▼297K 138,515 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 ▼226K 105,085 ▼226K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 ▼204K 95,292 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 ▼183K 85,498 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 ▼64903K 8,172 ▼73723K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 ▼125K 58,494 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Cập nhật: 21/10/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18452
CAD 17870 18144 18756
CHF 30700 31076 31722
CNY 0 3832 3927
EUR 28420 28636 29710
GBP 33800 34189 35129
HKD 0 3166 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14365 14955
SGD 19713 19994 20560
THB 685 748 800
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26059
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,479 28,502 29,857
JPY 158.96 159.25 168.89
GBP 33,975 34,067 35,261
AUD 17,809 17,873 18,552
CAD 18,055 18,113 18,784
CHF 30,929 31,025 31,964
SGD 19,824 19,886 20,676
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.97 18.74 20.39
THB 733.02 742.07 794.83
NZD 14,366 14,499 14,930
SEK - 2,566 2,658
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,925.73 - 6,687.29
TWD 715.69 - 867.13
SAR - 6,780.49 7,143.39
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,791 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26060
AUD 17800 17900 18835
CAD 18049 18149 19163
CHF 30924 30954 32536
CNY 3815.1 3840.1 3975.2
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28600 28630 30355
GBP 34107 34157 35915
HKD 0 3300 0
JPY 159.95 160.45 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14489 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19867 19997 20722
THB 0 714.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,584 25,704 26,000
USD20 25,554 25,704 26,000
USD1 25,534 25,704 26,000
AUD 17,876 17,976 19,081
EUR 28,399 28,499 29,970
CAD 18,000 18,100 19,406
SGD 19,943 20,093 20,910
JPY 160.47 161.97 167.53
GBP 33,996 34,146 35,460
XAU 13,928,000 0 14,232,000
CNY 0 3,793 0
THB 0 748 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/10/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30