Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2026

(TBTCO) - Chỉ một ngày sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, hàng loạt ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất huy động với kỳ hạn trên 6 tháng, phổ biến hạ 0,5 điểm phần trăm, có nơi giảm tới 0,9 điểm phần trăm. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản, tỷ giá và nhu cầu vốn cuối năm vẫn hạn chế dư địa giảm lãi suất.
aa

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Lãi suất trên 6 tháng giảm ồ ạt, có ngân hàng hạ 0,9 điểm phần trăm

Chỉ một ngày sau cuộc họp giữa lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, hàng loạt ngân hàng đã đồng loạt giảm lãi suất huy động. Mức giảm phổ biến là 0,5 điểm phần trăm, tập trung ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Cá biệt, một số ngân hàng điều chỉnh mạnh hơn, lên tới 0,9 điểm phần trăm.

Thống kê lãi suất tiền gửi niêm yết tại gần 50 ngân hàng vào chiều ngày 20/10, thứ hạng các ngân hàng trả lãi suất cao cũng có sự xáo trộn đáng kể, đặc biệt ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Theo đó, ở kỳ hạn 6 tháng, trong nhóm “big 4”, Vietcombank giảm 0,5 điểm phần trăm, xuống 3%/năm; Agribank xuống 3,5%/năm so với ngày 19/10.

Các ngân hàng khác cũng đồng loạt hạ 0,5 điểm phần trăm, như SeABank (3,95%/năm); ACB (4%/năm); KienlongBank (4,8%/năm). Cùng mức giảm, TPBank, BaoVietBank và VIB đưa lãi suất về 5%/năm; Nam A Bank còn 5,1%/năm; NCB còn 5,5%/năm; SACOMBANK còn 5,7%/năm; OCB còn 5,9%/năm; BVBank còn 5,95%/năm; MSB xuống 6,1%/năm; Bac A Bank còn 6,55%/năm.

Ở kỳ hạn 12 tháng, có 14 nhà băng giảm lãi suất. Trong đó, KienlongBank giảm mạnh nhất trong nhóm được thống kê, giảm tới 0,9 điểm phần trăm, xuống 5%/năm; BVBank giảm 0,6 điểm phần trăm, xuống 6,05%/năm...

Trong khi đó, lãi suất các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng chỉ giảm tại một số nhà băng, như: SeABank hạ 0,5 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 và 3 tháng, lần lượt xuống 3,45% và 3,95%/năm; ACB giảm 0,4 điểm phần trăm ở kỳ hạn 3 tháng, xuống 4%/năm...

Diễn biến nêu trên bám sát chỉ đạo ngày 19/10 của Ngân hàng Nhà nước về giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5 điểm phần trăm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, tuyệt đối không đua tăng lãi suất huy động. Đồng thời, các ngân hàng phải tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm đối với sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.

Dù vậy, so với đầu tháng 9, VPBank vẫn tăng lãi suất huy động 0,8 điểm phần trăm ở kỳ hạn 6 tháng, lên 6,8%/năm; tăng 1,1 điểm phần trăm ở kỳ hạn 24 tháng, lên 6,9%/năm. Trong khi đó, UOB tăng 0,5 điểm phần trăm ở cả kỳ hạn 6 và 12 tháng, lần lượt lên 6,5%/năm.

Khảo sát cho thấy, dù lãi suất huy động đồng loạt giảm, các chương trình ưu đãi vẫn đẩy lãi suất thực nhận lên mức cao. VPBank vẫn trả lãi tới 9,3%/năm sau khi cộng ưu đãi 2,2 điểm phần trăm trong 3 ngày dịp 20/10. OCB cũng cộng thêm 2,5 điểm phần trăm cho tiền gửi trên 10 triệu đồng, kỳ hạn trên 6 tháng, nâng lãi suất lên 8,5%/năm.

Đáng chú ý, không chỉ dừng ở những chỉ đạo, nỗ lực hạ lãi suất đợt này còn đi kèm “kỷ luật thép” khi gắn cơ chế xử lý trực tiếp vào room tín dụng của từng ngân hàng.

“Đo” dư địa giảm lãi suất sâu

Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng (Đại học Kinh tế Quốc dân), áp lực lạm phát gia tăng, tình trạng căng thẳng thanh khoản tại một số ngân hàng, cùng nhiều yếu tố khác đã đẩy mặt bằng lãi suất thực tế lên cao, dù định hướng điều hành vẫn là giảm lãi suất nhằm hỗ trợ nền kinh tế.

“Đến nay, việc tìm cách giảm lãi suất là cần thiết, bởi nếu tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất cao, doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn” - ông Lạng bày tỏ.

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2026
Hàng loạt ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất huy động ở kỳ hạn trên 6 tháng. Ảnh minh họa.

“Để có dư địa giảm lãi suất hiện nay, ngân hàng có thể phải chấp nhận thu hẹp biên lợi nhuận. Nghĩa là, lãi suất huy động có thể vẫn phải duy trì cao một chút, trong khi lãi suất cho vay giảm xuống. Ngân hàng phải tính đến nhiều kịch bản, đồng thời chủ động cân đối nguồn thu để bù đắp phần lợi nhuận giảm từ một số khoản vay”.

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng -
Đại học Kinh tế Quốc dân

Bên cạnh công cụ lãi suất, theo vị chuyên gia này, cần sử dụng những công cụ khác để hỗ trợ doanh nghiệp, qua đó đạt được sự cân bằng động trong cả ngắn hạn và dài hạn.

Ông Lạng cũng lưu ý, trong trường hợp lạm phát neo ở mức cao, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất, đồng Việt Nam (VND) có thể chịu áp lực giảm giá. Nếu không điều chỉnh chính sách kịp thời, áp lực tỷ giá sẽ lớn hơn.

“Vì vậy, cần có chính sách dự phòng về lãi suất để ứng phó trong trường hợp Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ” - ông Lạng lưu ý.

Cùng chung quan điểm, nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, dư địa giảm lãi suất vẫn chịu giới hạn bởi áp lực cân đối nguồn vốn và rủi ro tỷ giá. Nhu cầu vốn thường gia tăng vào quý IV/2026, khiến các ngân hàng tiếp tục phải duy trì nguồn huy động ổn định.

Bên cạnh đó, xu hướng thắt chặt tiền tệ tại các ngân hàng trung ương lớn có thể hạn chế khả năng nới lỏng thanh khoản.

“Chúng tôi kỳ vọng lãi suất huy động sẽ điều chỉnh giảm có chọn lọc theo yêu cầu nhà điều hành, trong khi lãi suất cho vay giảm rõ hơn ở các lĩnh vực ưu tiên và chương trình tín dụng mới. Mặt bằng lãi suất toàn hệ thống khó giảm sâu, nhưng xu hướng tăng sẽ được kiềm chế và áp lực tăng lãi suất có thể sẽ quay trở lại trong đầu 2027” - Nhóm phân tích của Công ty Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

Nhóm phân tích của Công ty Chứng khoán Mirae Asset cũng lưu ý về áp lực lãi suất cao, áp lực lạm phát và nhu cầu tín dụng cao, chênh lệch lớn với huy động, khi dư nợ tín dụng đã cao hơn huy động kể từ tháng 7/2022 đến nay. “Tính đến cuối tháng 9, ước tính mức chênh lệch khoảng 2,6 triệu tỷ đồng, giảm so với mức 2,8 triệu tỷ đồng cuối tháng 7” - chuyên gia của Công ty Chứng khoán Mirae Asset tính toán.

Việc hàng loạt ngân hàng nhanh chóng giảm lãi suất huy động cho thấy những chuyển động bước đầu trong thực hiện chỉ đạo của nhà điều hành. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách còn phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa mức giảm này thành lãi suất cho vay thực chất, quy mô giảm lãi suất, qua đó giảm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp và người dân trong chặng nước rút cuối năm./.

Lãi suất huy động giảm ồ ạt, top ngân hàng trả lãi cao xáo trộn

Trong bối cảnh hàng loạt ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất huy động theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, thứ hạng các ngân hàng trả lãi suất cao cũng có sự xáo trộn đáng kể, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng.

Ở nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, lãi suất kỳ hạn 6 tháng chỉ dao động 3 - 3,5%/năm, thấp nhất là Vietcombank với 3%/năm.

Trong nhóm ngân hàng thương mại lớn, VPBank giữ top 1 kỳ hạn 6 tháng với 6,8%/năm, cao hơn Vietcombank tới 3,8 điểm phần trăm. Ngân hàng này cũng đứng top đầu kỳ hạn 12 tháng và top 2 kỳ hạn 24 tháng, cùng mức 6,9%/năm. Trong khi đó, MB giữ top 1 kỳ hạn 24 tháng với 7%/năm.

Ở nhóm ngân hàng thương mại khác, xét riêng kỳ hạn 6 tháng, PGBank đứng top 1 với 6,6%/năm, Bac A Bank giữ top 2 với 6,55%/năm, còn UOB và MBV đồng top 3 với 6,5%/năm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng mở ra dư địa tăng trưởng nhờ tích hợp vào giao dịch số, bán theo khoảnh khắc, thay vì sản phẩm. Theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính (IFRM), lợi thế tiếp cận khách hàng của ngân hàng càng lớn, yêu cầu minh bạch và bảo vệ quyền lựa chọn càng cấp thiết, tránh chạy theo “độ phủ” mà bỏ quên “độ hiểu”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
Hà Nội - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
Đà Nẵng - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
Miền Tây - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
Tây Nguyên - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 ▼50K 14,260 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 13,960 ▼50K 14,260 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 13,960 ▼50K 14,260 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 ▼10K 14,250 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 ▼10K 14,250 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 ▼10K 14,250 ▼30K
NL 99.99 13,200 ▼30K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050 ▼30K
Trang sức 99.9 13,530 ▼30K 14,130 ▼30K
Trang sức 99.99 13,540 ▼30K 14,140 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 ▼5K 14,262 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 ▼5K 14,263 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 ▼16K 1,412 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 ▼16K 1,413 ▼11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 ▼11K 1,402 ▼11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 ▼1089K 138,812 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 ▼825K 105,311 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 ▼748K 95,496 ▼748K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 ▼671K 85,681 ▼671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 ▼641K 81,895 ▼641K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 ▼459K 58,619 ▼459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Cập nhật: 20/10/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,583 25,703 26,000
USD20 25,553 25,703 26,000
USD1 25,533 25,703 26,000
AUD 17,801 17,901 19,008
EUR 28,411 28,511 30,167
CAD 17,999 18,099 19,404
SGD 19,934 20,084 20,647
JPY 160.5 162 167.56
GBP 33,935 34,085 35,147
XAU 13,958,000 13,958,000 14,262,000
CNY 0 0 0
THB 0 0 0
CHF 31,767 31,767 31,767
KRW 21.1 21.1 21.1
Cập nhật: 20/10/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30