Ngành Bảo hiểm xã hội thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép”

Thảo Miên
(TBTCO) - Năm 2021 đi qua với biết bao khó khăn, thách thức do đại dịch Covid-19, nhưng cũng là năm để lại nhiều dấu ấn quan trọng đối với đất nước, với ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Ngành đã thực hiện thắng lợi mục tiêu kép: vừa hoàn thành các nhiệm vụ trong điều kiện khó khăn, thách thức, vừa thực hiện thành công, hiệu quả các chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do dịch Covid-19.
aa

Đảm bảo tốt nhất quyền lợi người tham gia, thụ hưởng chính sách

Trước tình hình dịch bệnh phức tạp, kéo dài, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam luôn theo sát diễn biến thực tế, kịp thời triển khai các giải pháp linh hoạt nhằm đảm bảo tốt nhất quyền lợi người tham gia và an toàn phòng chống dịch Covid-19, như: đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, chi trả gộp 2 tháng lương hưu, chi trả lương hưu tại nhà, linh hoạt trong chuyển tuyến khám chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế (BHYT)…

Ngành Bảo hiểm xã hội thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép”
Hiện đã có hơn 12,7 triệu người lao động được nhận hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp. Ảnh minh họa

Trong năm 2021, ước toàn ngành đã giải quyết khoảng 95.762 hồ sơ hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; đảm bảo chi trả kịp thời, an toàn cho khoảng 3,2 triệu người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng; chi trả 6.698.566 lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe; 626.397 người hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); 118,721 triệu lượt người KCB BHYT nội trú và ngoại trú.

Những kết quả này một lần nữa cho thấy quyết tâm chính trị của toàn ngành trong việc đảm bảo quyền lợi của người tham gia, thụ hưởng chính sách; theo đó, quyền lợi an sinh của người dân tiếp tục được quan tâm đảm bảo tốt hơn trong đại dịch, góp phần củng cố, tạo thêm niềm tin vững chắc của người dân đối với các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta.

Chủ động, nhanh chóng triển khai thành công các chính sách hỗ trợ

Năm 2021, bên cạnh những công việc thường xuyên, ngành BHXH Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ “chưa có tiền lệ” đến người lao động, người sử dụng lao động gặp khó khăn do Covid-19.

Tổng giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh cho biết, trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, với vai trò là cơ quan thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN, trong năm 2021, BHXH Việt Nam đã tiếp tục chủ động, tích cực đề xuất, tham gia phối hợp với các bộ, ngành liên quan kịp thời trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ) gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.

Ngay sau khi các văn bản trên được ban hành, BHXH Việt Nam đã tập trung triển khai quyết liệt, hiệu quả, kịp thời các chính sách hỗ trợ, với phương châm đưa chính sách đến với doanh nghiệp và NLĐ nhanh nhất, thuận tiện nhất.

Kết quả trong thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP, Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, chỉ sau 7 ngày, toàn ngành đã hoàn thành việc điều chỉnh giảm mức đóng vào Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho 375 nghìn đơn vị, tương ứng 11,238 triệu lao động với số tiền khoảng 4.322 tỷ đồng; rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ từ 5 ngày còn 1 ngày làm việc; thành lập các đoàn công tác để trực tiếp kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn tại Hà Nội và 19 tỉnh, thành phố phía Nam.

Tính đến ngày 28/12/2021, toàn ngành đã giải quyết cho 846 đơn vị với 160.218 lao động tạm dừng đóng quỹ hưu trí và tử tuất với số tiền hơn 1.113 tỷ đồng; xác nhận danh sách cho 3.012.864 NLĐ của 70.804 đơn vị SDLĐ để hưởng các chính sách hỗ trợ.

Trong thực hiện Nghị quyết số 116/NQ-CP và Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg, ông Nguyễn Thế Mạnh cho biết, trong vòng 5 ngày (đến 5/10/2021), toàn ngành BHXH đã hoàn thành việc gửi thông báo giảm mức đóng (1% xuống 0%) vào Quỹ BHTN đến 363,6 nghìn đơn vị SDLĐ, với số tiền điều chỉnh giảm khoảng 7.594,6 tỷ đồng. Hiện đã có hơn 12,7 triệu người lao động được nhận hỗ trợ từ Quỹ BHTN, với tổng số tiền khoảng 30,11 nghìn tỷ đồng.

Các gói hỗ trợ thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã kịp thời hỗ trợ, chia sẻ khó khăn đối với NLĐ và đơn vị SDLĐ đang gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; đồng thời, thể hiện rõ tính nhân văn của chính sách BHXH, BHTN, đảm bảo hài hòa nguyên tắc chia sẻ, nguyên tắc đóng - hưởng được kết hợp với nguyên tắc công bằng.

Trong triển khai các chính sách, lãnh đạo BHXH Việt Nam đã liên tục có những chỉ đạo kịp thời, quyết liệt trong toàn hệ thống; đặc biệt nêu cao vai trò, trách nhiệm, sự chủ động với phương châm lấy người dân, NLĐ, NSDLĐ làm trung tâm phục vụ. Đồng thời, cắt giảm tối đa thời gian giải quyết hồ sơ (thậm chí có những thủ tục cắt giảm từ 5 ngày xuống còn không quá 1 ngày làm việc)… để chính sách hỗ trợ đến được với NLĐ, NSDLĐ một cách sớm nhất, hiệu quả nhất.

Việc ngành BHXH Việt Nam triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ về BHXH, BHTN đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho NLĐ, giúp doanh nghiệp có thêm điều kiện để phục hồi, duy trì hoạt động sản xuất, đẩy lùi dịch Covid-19, sớm ổn định kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân.

Đồng thời, việc chi trả nhanh, gọn, dứt điểm các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đúng lúc NLĐ, NSDLĐ đang gặp khó khăn có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước đối với cuộc sống người lao động, nhất là những lúc khó khăn do thiên tai, dịch bệnh.

Thảo Miên

Đọc thêm

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy KienlongBank duy trì đà tăng trưởng rõ nét, với hiệu quả cải thiện qua từng quý, rủi ro được kiểm soát và nền tảng vận hành tiếp tục được chuẩn hóa.
Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,190 17,490
Kim TT/AVPL 17,200 17,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,190 17,490
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 174,900
Hà Nội - PNJ 171,900 174,900
Đà Nẵng - PNJ 171,900 174,900
Miền Tây - PNJ 171,900 174,900
Tây Nguyên - PNJ 171,900 174,900
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 174,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,190 17,490
Miếng SJC Nghệ An 17,190 17,490
Miếng SJC Thái Bình 17,190 17,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,170 17,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,170 17,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,170 17,470
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,660 17,360
Trang sức 99.99 16,670 17,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,719 17,492
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,719 17,493
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,717 1,747
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,717 1,748
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,697 1,732
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,985 171,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,163 130,063
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,038 117,938
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,913 105,813
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,236 101,136
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,482 72,382
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 1,749
Cập nhật: 01/04/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17521 17794 18367
CAD 18356 18632 19249
CHF 32248 32631 33272
CNY 0 3470 3830
EUR 29572 29843 30870
GBP 34002 34392 35325
HKD 0 3229 3431
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14720 15308
SGD 19862 20144 20672
THB 713 776 830
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,784 29,808 31,038
JPY 160.97 161.26 169.96
GBP 34,280 34,373 35,335
AUD 17,778 17,842 18,403
CAD 18,594 18,654 19,222
CHF 32,595 32,696 33,449
SGD 20,051 20,113 20,770
CNY - 3,790 3,908
HKD 3,302 3,312 3,429
KRW 15.95 16.63 17.98
THB 764.52 773.96 823.78
NZD 14,750 14,887 15,238
SEK - 2,718 2,797
DKK - 3,986 4,102
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,096.35 - 6,841.52
TWD 744.27 - 896.07
SAR - 6,920.72 7,244.92
KWD - 83,761 88,573
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,652 29,771 30,943
GBP 34,131 34,268 35,265
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,387 32,517 33,430
JPY 160.84 161.49 168.73
AUD 17,711 17,782 18,365
SGD 20,037 20,117 20,689
THB 782 785 819
CAD 18,569 18,644 19,205
NZD 14,824 15,350
KRW 16.55 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26357
AUD 17704 17804 18729
CAD 18538 18638 19652
CHF 32502 32532 34106
CNY 3753.3 3778.3 3913.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29755 29785 31508
GBP 34304 34354 36107
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14830 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20027 20157 20878
THB 0 742.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17190000 17190000 17490000
SBJ 16000000 16000000 17490000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,357
USD20 26,169 26,219 26,357
USD1 26,169 26,219 26,357
AUD 17,784 17,884 18,990
EUR 29,913 29,913 31,324
CAD 18,500 18,600 19,908
SGD 20,112 20,262 20,826
JPY 161.97 163.47 168.01
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,188,000 0 17,492,000
CNY 0 3,663 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80