Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng

(TBTCO) - Các “thước đo”, giới hạn và tỷ lệ an toàn mới đặt ngân hàng trước những bài kiểm tra về độ ổn định của nguồn vốn, khả năng thanh khoản khi dòng tiền căng thẳng và sức chống đỡ rủi ro của nền vốn, từng bước tiệm cận chuẩn mực Basel III. Qua đó, “sức khỏe” và khả năng chống chịu sẽ trở thành yếu tố phân hóa rõ hơn giữa các ngân hàng.
aa

Loạt chỉ tiêu mới

Hệ thống ngân hàng giữ vai trò huyết mạch, vừa dẫn dắt dòng vốn, vừa là hạ tầng quan trọng bảo đảm thanh toán, lưu chuyển tiền tệ, qua đó, hỗ trợ tăng trưởng và vận hành thông suốt nền kinh tế. Vì vậy, yêu cầu an toàn không chỉ đặt ra đối với từng ngân hàng, mà còn gắn với khả năng duy trì dòng vốn, bảo đảm thanh khoản và củng cố sức chống chịu của toàn hệ thống.

Trong bối cảnh đó, Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 50) vừa được ban hành, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/12/2026.

Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng
Các chuẩn mới hướng tới đo lường thực chất hơn mức độ an toàn, năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng. Ảnh: Đức Thanh

Thông tư đánh dấu bước chuyển trong quản lý an toàn, thanh khoản ngân hàng, từ việc chủ yếu kiểm soát các tỷ lệ trên bảng cân đối sang đánh giá thực chất hơn chất lượng và độ ổn định của nguồn vốn, khả năng thanh khoản của tài sản, cũng như năng lực chống chịu trước các cú sốc. Qua đó, góp phần củng cố nền tảng an toàn của hệ thống ngân hàng, đồng thời tiệm cận các chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế theo Basel III.

Điểm mới đáng chú ý của Thông tư 50 so với Thông tư số 22/2019/TT-NHNN là bổ sung hai “thước đo” an toàn thanh khoản gồm: tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) và tỷ lệ khả năng chi trả (LCR).

Lộ trình và cách thức áp dụng được đánh giá là hợp lý hơn so với phương án ban đầu ở 3 điểm chính. Một là, nâng trần tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) lên 95%, với mẫu số mở rộng, thay cho phương án áp dụng tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) ở mức 85% được đưa ra trong dự thảo.

Hai là, lộ trình tuân thủ tỷ lệ LCR giãn ra 6 năm, với ngưỡng khởi điểm thấp hơn 20 điểm phần trăm, chỉ từ 50%, thay vì 70%. Theo đó, LCR bắt đầu ở mức 50% từ ngày 1/10/2028, tăng 10 điểm phần trăm mỗi năm và đạt 100% từ ngày 1/10/2033, muộn hơn khoảng 2,75 năm so với dự thảo, giúp chi phí tuân thủ được giãn đáng kể.

Ba là, giả định hành vi tiền gửi khớp thông lệ trong nước cũng giúp nới lỏng cách tính dòng tiền ra của LCR.

NSFR là “phép thử” mới với nguồn vốn ngân hàng

Nguồn vốn ngắn hạn tài trợ tài sản dài hạn chính là điểm dễ “tổn thương” nhất khi áp dụng NSFR. Hệ số nguồn vốn ổn định sẵn có (ASF) bằng 0% đối với nguồn liên ngân hàng dưới 6 tháng không đổi. Điều này tạo áp lực tái cơ cấu đối với những ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường 2. Đây sẽ là ràng buộc chính đối với nhiều ngân hàng, không phải LDR.

Để thấy rõ tác động của thay đổi này, cần nhìn vào vai trò khác nhau của hai “thước đo”. LCR tạo “lớp đệm” thanh khoản ngắn hạn, yêu cầu ngân hàng duy trì đủ tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền để đáp ứng dòng tiền ra trong 30 ngày căng thẳng, như khi xuất hiện “làn sóng” rút tiền hoặc nhu cầu thanh toán tăng mạnh.

Cách xác định dòng tiền ra cũng phù hợp hơn với hành vi tiền gửi trong nước. Tiền gửi bán lẻ bằng VND có kỳ hạn còn lại trên 30 ngày được loại khỏi dòng tiền ra nếu khi rút trước hạn chỉ hưởng lãi suất không kỳ hạn thấp nhất.

Tiền gửi bán lẻ ổn định có hệ số 5%, trong khi tiền gửi kém ổn định áp dụng hệ số cố định 10%.

Những điều chỉnh này giúp giảm áp lực thanh khoản giả định, qua đó, phần nào hạn chế nhu cầu gia tăng nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao, nhưng lợi suất thấp và áp lực cạnh tranh huy động bán lẻ để đáp ứng tỷ lệ LCR.

Theo đánh giá, các áp lực này vẫn hiện hữu, nhưng nhẹ hơn và đến chậm hơn so với việc áp dụng các mức được đưa ra tại dự thảo, do đó, tác động của chính sách lên biên lãi ròng (NIM) trong giai đoạn 2027 - 2028 dự kiến không đáng kể.

Trong khi đó, NSFR đo “sức bền” của cấu trúc nguồn vốn, yêu cầu ngân hàng duy trì nguồn vốn đủ ổn định để tài trợ cho tài sản và bảo đảm hoạt động lâu dài.

Đối với NSFR, thay đổi so với dự thảo chủ yếu nằm ở thời điểm áp dụng, từ ngày 1/10/2028 và giả định hành vi tiền gửi; ngưỡng tối thiểu được giữ nguyên. NSFR bắt đầu ở mức 90% từ năm 2028, tăng lên 95% từ năm 2029 và đạt 100% từ năm 2030.

Với ngưỡng khởi điểm tương đối cao, NSFR được đánh giá sẽ trở thành ràng buộc thanh khoản có tính cấu trúc đáng chú ý trong giai đoạn 2028 - 2030.

LDR được nới, nhưng cách tính chặt chẽ hơn

Một thay đổi dễ nhận thấy là trần LDR theo Thông tư 50 được nâng từ 85% lên 95%. Tuy nhiên, LDR mới có cách xác định khác đáng kể so với Thông tư số 22/2019/TT-NHNN (đã sửa đổi, bổ sung) và CDR trong dự thảo. Do đó, nếu chỉ nhìn vào việc nâng giới hạn từ 85% lên 95% sẽ chưa phản ánh hết thay đổi. Điểm đáng chú ý nằm ở không gian bảng cân đối được định hình lại, khi cách xác định nguồn vốn được ghi nhận ở mẫu số thay đổi đáng kể.

Theo đó, ở mẫu số (D) đã được mở rộng. Ngoài tiền gửi của tổ chức, cá nhân, Thông tư cho phép tính thêm nguồn nhận ủy thác cấp tín dụng mà ngân hàng chịu rủi ro; phần đi vay ròng liên ngân hàng; vay nước ngoài, kể cả trái phiếu quốc tế; một số cấu phần vốn chủ sở hữu và 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, hoặc tỷ lệ khác do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định. Cùng với đó là vốn chủ sở hữu khấu trừ (1) chênh lệch ròng giữa lãi, phí phải thu và phải trả, (2) giá trị nguyên giá của tài sản cố định và (3) giá trị góp vốn, mua cổ phần.

Tuy nhiên, việc mở rộng mẫu số đi kèm những điểm siết chặt. Trái phiếu thường (không đủ điều kiện vốn cấp 2 với kỳ hạn gốc dưới 5 năm) phát hành trong nước không còn được tính vào mẫu số. Trong khi đó, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và cấp tín dụng ngoài cho vay bị trừ khỏi mẫu số. Ngoài ra, số dư nợ gốc phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng khác ngoài cho vay cũng bị trừ khỏi mẫu số.

Do đó, việc dịch chuyển hình thức cấp tín dụng từ cho vay sang đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, hay các loại hình cấp tín dụng khác như: thư tín dụng, chiết khấu, bao thanh toán, trả thay bảo lãnh... cũng không giúp cải thiện LDR, qua đó, giữ được tinh thần “cấp tín dụng thực chất” của CDR.

Đối với vốn liên ngân hàng, chỉ phần đi vay ròng dương được tính. Quy định này hạn chế vay ngắn hạn liên ngân hàng gộp để “làm đẹp” chỉ số, mà vẫn ghi nhận ngân hàng thiếu vốn thực sự trên thị trường 2.

Cách tính mới vì vậy tạo ra sự phân hóa giữa các ngân hàng. Nhóm có tỷ lệ an toàn vốn cao, nguồn vay nước ngoài hoặc vốn hợp vốn quốc tế lớn, hay duy trì trạng thái vay ròng trên thị trường liên ngân hàng sẽ có lợi thế tương đối.

Ngược lại, những ngân hàng có tỷ trọng đầu tư trái phiếu doanh nghiệp cao và dựa nhiều vào trái phiếu thường không đủ điều kiện tính là vốn cấp 2 sẽ bất lợi hơn.

Thêm “chốt chặn” đòn bẩy, nhưng ngưỡng tối thiểu vẫn để ngỏ

Trong khi LDR, NSFR và LCR gắn trực tiếp với nguồn vốn và thanh khoản, tỷ lệ đòn bẩy (LEV) bổ sung một góc nhìn khác, đó là quy mô trạng thái rủi ro của ngân hàng có tương xứng với vốn cấp 1 hay không.

Thông tư chưa quy định ngưỡng LEV tối thiểu như mức 3% tại dự thảo. Mức tối thiểu, thời gian và tần suất áp dụng sẽ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ. Ngoài khoảng thời gian phải áp dụng, ngân hàng tự quản lý LEV theo quy định nội bộ.

Do chưa ấn định ngưỡng tối thiểu, LEV chưa trở thành ràng buộc trong ngắn hạn. Rủi ro bị giới hạn cổ tức tiền mặt với nhóm ngân hàng có tầm quan trọng cũng được gỡ bỏ ở thời điểm hiện tại, nhưng có thể quay lại khi Thống đốc ban hành ngưỡng áp dụng.

Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC)

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30