Thị trường tiền tệ tuần 3-7/3: Ngân hàng Nhà nước dừng phát hành tín phiếu, giá vàng lại “nhảy múa”

Tấn Minh
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (3-7/3) là việc Ngân hàng Nhà nước dừng phát hành tín phiếu kể từ ngày 5/3, qua đó phát tín hiệu mạnh mẽ và tích cực về định hướng trong việc kéo giảm mặt bằng lãi suất thị trường xuống. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước tăng vọt, giá vàng nhẫn lại lập đỉnh mới.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Ngân hàng Nhà nước dừng phát hành tín phiếu

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, để triển khai chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc điều hành lãi suất tại công điện số 19/CĐ-TTg ngày 24/02/2025, NHNN đã quyết liệt thực hiện các giải pháp điều hành, trong đó điều hành nghiệp vụ thị trường mở chủ động, linh hoạt để giảm mặt bằng lãi suất thị trường liên ngân hàng, qua đó hỗ trợ tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp từ NHNN để có điều kiện tiếp tục giảm lãi suất cho vay theo đúng định hướng, chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Theo thống kê mới nhất, đã có 12 ngân hàng thương mại điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi với mức giảm từ 0,1%-0,7%/năm và ở hầu hết các kỳ hạn. Điều này cho thấy các tổ chức tín dụng đã và đang tích cực triển khai giảm lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong việc vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng.

Cụ thể, NHNN liên tục thực hiện chào mua có kỳ hạn giấy tờ có giá hằng ngày, đa dạng hóa và kéo dài kỳ hạn chào mua, tăng khối lượng chào mua để đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vốn thanh khoản cho các tổ chức tín dụng ổn định tâm lý thị trường.

NHNN cũng thực hiện chào mua giấy tờ có giá lên đến 91 ngày để bơm thanh khoản dài hạn hơn cho hệ thống, qua đó hỗ trợ hệ thống tổ chức tín dụng cung ứng kịp thời nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, góp phần giảm mặt bằng lãi suất thị trường.

Đáng chú ý, NHNN liên tục giảm dần lãi suất phát hành tín phiếu NHNN từ 4,0%, xuống còn 3,1%/năm (ngày 4/3), đồng thời giảm dần khối lượng và tiến tới dừng phát hành tín phiếu kể từ ngày 5/3, qua đó phát tín hiệu mạnh mẽ và tích cực về định hướng của NHNN trong việc kéo giảm mặt bằng lãi suất thị trường xuống.

Thị trường tiền tệ tuần 3-7/3: Ngân hàng Nhà nước dừng phát hành tín phiếu, giá vàng lại “nhảy múa”
Ngân hàng Nhà nước dừng phát hành tín phiếu từ ngày 5/3/2025. Ảnh: T.L
Theo đó, thời gian gần đây, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm. Lãi suất giao dịch các kỳ hạn ngắn trên thị trường liên ngân hàng ngày 5/3 đã giảm và hiện về quanh mức 4,0/năm, bám sát mức lãi suất chào mua giấy tờ có giá của NHNN.

Ngoài ra, sau khi NHNN quán triệt và chỉ đạo toàn hệ thống tổ chức tín dụng triển khai các giải pháp ổn định lãi suất tiền gửi, giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các tổ chức tín dụng đã đồng loạt điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi; đồng thời đưa ra nhiều chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất hợp lý.

Giá vàng tăng mạnh, vàng nhẫn lập kỷ lục mới

Thị trường vàng tuần qua diễn biến rất sôi động, thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 7/3/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.911,2 USD/oune, tăng 34,15 USD/ounce so với tuần trước đó.

Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá tương đương khoảng 88,8 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.721 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 90,3 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Thị trường tiền tệ tuần 3-7/3: Ngân hàng Nhà nước dừng phát hành tín phiếu, giá vàng lại “nhảy múa”
Giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao. Ảnh: T.L

Phần lớn nhà phân tích hàng hóa trên Kitco News dự đoán rằng, giá vàng sẽ tiếp tục được hỗ trợ vững chắc khi xu hướng phi toàn cầu hóa tăng mạnh. Một số nhà phân tích cho biết các mối đe dọa thuế quan của Tổng thống Donald Trump đang đẩy thị trường vào sự bất ổn. Việc đồng USD vẫn chịu sức ép so với các tiền tệ lớn khác, phần nào giúp vàng tăng thêm.

Diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước có một tuần tăng mạnh. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 7/3 giữ ở mức 92,7 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 90,7 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh 2,2 triệu đồng so với giá vàng ở tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng ghi nhận mức tăng mạnh và vượt mốc 93 triệu đồng/lượng, trong tuần có thời điểm giá vàng nhẫn tiến sát mốc 94 triệu đồng/lượng, lập kỷ lục mới. Với mức giá này, giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao hơn với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 7/3, tại DOJI, giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 93,1 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 91,1 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 91,7- 93,2 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 93,5 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 92 triệu đồng/lượng. So với giá vàng tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng từ 2,1 đến 2,3 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, tỷ giá tuần qua cũng có dấu hiệu nhích tăng, tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 3/3 ghi nhận ở mức 24.726 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng vào ngày thứ Ba, sau đó liên tục giảm tỷ giá tại tất cả các ngày còn lại của tuần.

Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.738 đồng/USD, tăng 12 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng trong những tháng gần đây.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng liên tục nhích tăng. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.730 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục điều chỉnh tăng tỷ giá bán ra vào ngày thứ Ba và thứ Năm, còn điều chỉnh giảm tỷ giá bán ra trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.660 đồng/USD, giảm 70 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Chỉ số DXY có xu hướng giảm mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng giảm mạnh trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 7/3/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 104,05 điểm, giảm gần 3 điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần, chỉ số này có dấu hiệu hạ nhiệt sau khi tăng nóng vào thời gian qua.

Tấn Minh

Đọc thêm

Cần sớm chuẩn hóa nghề tư vấn tài chính ở Việt Nam

Cần sớm chuẩn hóa nghề tư vấn tài chính ở Việt Nam

(TBTCO) - TS. Lê Minh Nghĩa - Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) cho rằng đã đến lúc cần xây dựng cơ sở pháp lý và lộ trình chuẩn hóa nghề tư vấn tài chính tại Việt Nam.
Mở rộng diện đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội: Cân bằng an toàn và hiệu quả

Mở rộng diện đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội: Cân bằng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Góp ý về đề xuất mở rộng diện ngân hàng được nhận tiền gửi từ Quỹ Bảo hiểm xã hội, đại biểu Vũ Văn Tiến cho rằng, quỹ cần đa dạng hóa danh mục, thận trọng nhưng không trì trệ, nâng hiệu quả đầu tư nhưng phải bảo đảm an toàn cho khoản tích lũy của người lao động.
Vietcombank đồng hành kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường vốn

Vietcombank đồng hành kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường vốn

(TBTCO) - Dòng vốn cho một kỷ nguyên mới không chỉ cần được khơi thông, mà cần được vận hành trên nền tảng của an toàn, minh bạch và niềm tin. Vietcombank sẵn sàng cùng ngành quản lý quỹ và thị trường vốn Việt Nam kiến tạo nền tảng ấy, hôm nay và cho những chặng đường phát triển tiếp theo.
MSB dự tính chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng huy động nghìn tỷ, lập nhiều công ty con mở rộng hệ sinh thái

MSB dự tính chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng huy động nghìn tỷ, lập nhiều công ty con mở rộng hệ sinh thái

MSB lên kế hoạch tăng vốn lần hai trong năm 2026, dự kiến chào bán 936 triệu cổ phiếu giá 10.000 đồng, huy động 9.360 tỷ đồng. Song song, ngân hàng muốn thành lập ngân hàng 100% vốn tại VIFC; mở rộng mảng chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, hướng tới hoàn thiện hệ sinh thái với hoạt động ngân hàng làm nền tảng cốt lõi.
Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

(TBTCO) - Thị trường vốn Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, được hỗ trợ bởi triển vọng nâng hạng, sự gia tăng của nhà đầu tư tổ chức và nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm đầu tư. Việc nâng hạng không chỉ giúp cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận dòng vốn quy mô lớn từ các quỹ đầu tư toàn cầu.
SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) tiếp tục đẩy mạnh hệ sinh thái giải pháp tài chính dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hỗ trợ khách hàng chủ động nguồn vốn, tối ưu dòng tiền, tiết giảm chi phí giao dịch và quản trị rủi ro tỷ giá trong toàn bộ chuỗi thương mại quốc tế.
PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 ▲1600K 144,100 ▲1600K
Hà Nội - PNJ 141,100 ▲1600K 144,100 ▲1600K
Đà Nẵng - PNJ 141,100 ▲1600K 144,100 ▲1600K
Miền Tây - PNJ 141,100 ▲1600K 144,100 ▲1600K
Tây Nguyên - PNJ 141,100 ▲1600K 144,100 ▲1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 ▲1600K 144,100 ▲1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 ▲160K 14,410 ▲160K
Miếng SJC Nghệ An 14,110 ▲160K 14,410 ▲160K
Miếng SJC Thái Bình 14,110 ▲160K 14,410 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 ▲160K 14,410 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 ▲160K 14,410 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 ▲160K 14,410 ▲160K
NL 99.99 13,350 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250 ▲50K
Trang sức 99.9 13,720 ▲160K 14,320 ▲160K
Trang sức 99.99 13,730 ▲160K 14,330 ▲160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 ▲16K 14,412 ▲160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 ▲16K 14,413 ▲160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 ▲1267K 1,436 ▲1294K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 ▲1267K 1,437 ▲16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▲16K 1,426 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▲1584K 141,188 ▲1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▲1200K 107,111 ▲1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▲78704K 97,128 ▲87524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▲976K 87,145 ▲976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▲933K 83,294 ▲933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44171K 5,962 ▼52991K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▲16K 1,441 ▲16K
Cập nhật: 30/09/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17576 17849 18422
CAD 17782 18056 18674
CHF 30543 30919 31556
CNY 0 3830 3926
EUR 28861 29079 30158
GBP 33670 34059 34991
HKD 0 3178 3381
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14367 14957
SGD 19801 20083 20652
THB 689 752 806
USD (1,2) 25703 0 0
USD (5,10,20) 25742 0 0
USD (50,100) 25770 25784 26150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 28,887 28,910 30,280
JPY 160.87 161.16 170.93
GBP 33,783 33,874 35,047
AUD 17,766 17,830 18,507
CAD 17,962 18,020 18,688
CHF 30,757 30,853 31,766
SGD 19,902 19,964 20,756
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,242 3,252 3,389
KRW 17.66 18.42 20.05
THB 737.55 746.66 799.24
NZD 14,350 14,483 14,916
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,874 4,012
NOK - 2,661 2,756
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,946.49 - 6,713.67
TWD 735.45 - 891.04
SAR - 6,797.54 7,160.41
KWD - 82,087 87,349
AED - 6,815 7,343
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,966 29,082 30,297
GBP 33,877 34,013 35,047
HKD 3,243 3,256 3,374
CHF 30,673 30,796 31,741
JPY 161.61 162.26 170.24
AUD 17,794 17,865 18,462
SGD 19,999 20,079 20,673
THB 755 758 796
CAD 17,993 18,065 18,661
NZD 14,449 14,999
KRW 18.55 20.54
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26150
AUD 17738 17838 18764
CAD 17948 18048 19063
CHF 30742 30772 32349
CNY 3812 3837 3972.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29023 29053 30778
GBP 33950 34000 35758
HKD 0 3315 0
JPY 161.83 162.33 172.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14459 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19956 20086 20808
THB 0 718.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14650000
SBJ 12500000 12500000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,675 25,795 26,160
USD20 25,645 25,795 26,160
USD1 25,625 25,795 26,160
AUD 17,857 17,957 19,070
EUR 28,792 28,892 30,464
CAD 17,894 17,994 19,309
SGD 20,017 20,167 20,733
JPY 162.44 163.94 169.54
GBP 33,749 33,899 35,272
XAU 13,948,000 0 14,252,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/09/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30