Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (7 - 11/10) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục hút ròng trên thị trường mở. Trong khi đó, tỷ giá có dấu hiệu nhích tăng trở lại còn giá vàng nhẫn tuần qua đã giảm bớt sức “nóng” sau nhiều tuần neo ở mức cao.
aa
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ thị hỗ trợ khách hàng thiệt hại do bão lũ Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền trên thị trường mở, giá vàng nhẫn tăng mạnh

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng

Từ đầu tuần đến nay, NHNN tiếp tục hút ròng hơn 10.000 tỷ đồng trên thị trường mở. Trong 5 phiên liên tiếp từ đầu tuần đến nay (từ 7/10 đến 11/10), Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu mỗi phiên 3.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, song đều không có khối lượng trúng thầu.

Khối lượng đáo hạn trong phiên này là 10.339 tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước không chào thầu tín phiếu. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 10.339 tỷ đồng từ thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở tính từ đầu tuần đến nay.

Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”
Đà tăng lãi suất huy động cũng đang chậm lại. Ảnh: T.L
Trên thị trường dân cư (thị trường 1), đà tăng lãi suất huy động cũng đang chậm lại. Trong 10 ngày đầu tháng 10/2024, mới chỉ có 3 ngân hàng tăng lãi suất huy động (và một ngân hàng giảm lãi suất huy động). Trong khi đó, trong tháng 6/2024 có 23 ngân hàng tăng lãi suất huy động, tháng 7/2024 có 19 ngân hàng tăng lãi suất, tháng 8/2024 có 15 ngân hàng tăng lãi suất và tháng 9/2024 có 12 ngân hàng tăng lãi suất.

Trước đó, trong tuần qua (30/09 - 04/10), Ngân hàng Nhà nước cũng đã hút ròng 56.567,68 tỷ đồng trên kênh cầm cố. Ngân hàng Nhà nước “ế” vốn trong bối cảnh thanh khoản hệ thống vẫn ổn định, tín dụng 9 tháng tăng trưởng vẫn chậm dù đã bứt tốc đáng kể trong tháng 9/2024.

Tuần qua, NHNN cũng công bố kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý IV/2024 đối với các tổ chức tín dụng, đa phần các ngân hàng kỳ vọng, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng bình quân 4,8% trong quý IV/2024 và 13,2% trong năm 2024 (điều chỉnh giảm 0,9 điểm phần trăm so với mức dự báo 14,1% tại kỳ điều tra trước).

Kết quả điều tra cũng cho thấy, tình hình kinh doanh tổng thể và lợi nhuận trước thuế của hệ thống ngân hàng trong quý III/2024 có cải thiện nhưng chưa đạt được như kỳ vọng ở kỳ điều tra trước. Khoảng 71,9% - 76,3% tổ chức tín dụng kỳ vọng, tình hình kinh doanh sẽ khả quan hơn trong quý IV/2024 và cả năm 2024.

Tại kỳ điều tra này, tỷ lệ các tổ chức tín dụng kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng trưởng dương so với năm 2023 là 79,6% (điều chỉnh giảm so với tỷ lệ kỳ vọng 86,2% tổ chức tín dụng có cùng kỳ vọng tại kỳ điều tra trước). Bên cạnh đó, vẫn có 15,9% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận tăng trưởng âm trong năm 2024 (cao hơn tỷ lệ 11% tổ chức tín dụng kỳ vọng tại kỳ điều tra trước) và 4,4% ước tính lợi nhuận không thay đổi.

Trong khi đó, lãi suất giao dịch liên ngân hàng tiếp tục sụt giảm. Ngày 10/10, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng chỉ còn 3,31%, giảm 0,06% so với phiên giao dịch trước đó. So với tuần trước, lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã giảm gần 0,7%.

Giá vàng nhẫn đã giảm sức “nóng”

Trong tuần giá vàng SJC cũng có những phiên biến động mạnh, giá vàng miếng SJC trong nước ngày 8/10 lại tăng thêm 1 triệu đồng/lượng, lên mức 85 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 83 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào. Sau đó, ngày 10/10 giá vàng miếng giảm 500 nghìn đồng lượng và giữ giá đi ngang trong phiên giao dịch cuối tuấn.

Chốt tuần, vàng miếng SJC tăng 500 nghìn đồng/ lượng so với tuần trước đó. Giá vàng ngày 11/10 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 84,5 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 82,5 triệu đồng/lượng. Với mốc giá trên, vàng miếng SJC đang cao hơn giá vàng quốc tế là 4,5 triệu đồng/lượng.

Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”
Giá vàng nhẫn đã giảm sức “nóng”. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn sau một thời gian tăng liên tục đã có dấu hiệu giảm sức “nóng”. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 11/10 tại DOIJ giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 82,30 triệu đồng/lượng trong khi bán ra tại 83,20 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn lên mức 82,25 - 83,20 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Bảo Tín Minh Châu giá vàng nhẫn ở mức 82,28 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 83,18 triệu đồng/lượng. Như vậy so với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm từ 300-500 nghìn đồng/lượng.

Giá vàng trong nước biến động liên tục trong những ngày qua, do ảnh hưởng từ giá vàng thế giới. Trên thị trường quốc tế, kim loại quý lao dốc mạnh trong những phiên gần đây. Giá vàng thế giới suy yếu trong bối cảnh giá trị đồng USD tăng cao. Giá dầu thô giảm về quanh mức 73,25 USD/thùng. Lãi suất trái phiếu Mỹ đạt hơn 4%, kích thích nhà đầu tư mua trái phiếu, khiến sức mua trên các sàn vàng yếu ớt…

Tỷ giá nhích tăng

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 7/10 ghi nhận ở mức 24.133 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm liên tục trong 2 ngày thứ Ba và thứ Tư, sau đó giữ ổn định vào ngày thứ Năm và tăng nhẹ vào hôm thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.172 đồng/USD, tăng 39 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng từ đầu tháng 10 đến nay, hôm 1/10 tỷ giá ghi nhận là 24.081 đồng/USD, nhưng liên tục được điều chỉnh tăng từng ngày từ thời điểm đó đến nay và đến ngày 11/10 đã tăng lên mức 24.172 đồng/USD.

Cùng chung quỹ đạo này, tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại cũng luôn được điều chỉnh tăng từ đầu tháng. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ hai đầu tuần là 24.940 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng mạnh tỷ giá bán ra trong hôm thứ Ba, nhưng sau đó giữ nguyên và tăng nhẹ tỷ giá trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.030 đồng/USD, tăng 90 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm 1/10 ghi nhận mức 24.770 đồng/USD và đến nay đã vượt lên trên mốc 25.000 đồng/USD.

Tỷ giá trong nước theo đó đang có diễn biến đồng nhịp theo xu hướng tăng giá của đồng USD trên thị trường quốc tế trong vòng hơn 1 tuần trở lại đây. Đầu tháng 10, đồng USD vẫn ở mức dưới 101 điểm, cũng là mức đáy thấp nhất trong khoảng hơn 2 năm trở lại đây. Tuy nhiên, đồng tiền này bất ngờ tăng giá mạnh chỉ trong ít ngày lên mức trên 102 điểm vào hôm 4/10 và duy trì ở mặt bằng này suốt từ đó đến nay./.

Chỉ số DXY tăng mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu tăng mạnh tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 11/10 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 102,84 điểm, tăng mạnh so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 60 USD/ounce so với sáng qua, lùi về sát ngưỡng 4.000 USD/ounce. Cùng diễn biến này, giá vàng trong nước cũng tiếp tục điều chỉnh giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lan Hương - Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được mở rộng quyền lợi. Đáng chú ý, nhiều bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán nay sẽ được chi trả 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng.
Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
ABBank được vinh danh 2 giải thưởng quốc tế về công nghệ và ngân hàng bán lẻ

ABBank được vinh danh 2 giải thưởng quốc tế về công nghệ và ngân hàng bán lẻ

(TBTCO) - Việc đồng thời nhận hai giải thưởng tại Global Banking & Finance Awards® 2026 cho thấy dấu ấn ngày càng rõ nét của ABBank trong chuyển đổi số và mở rộng hoạt động bán lẻ. Đây cũng là sự ghi nhận quốc tế đối với chiến lược đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao trải nghiệm khách hàng của ABBank.
HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Khi chuyển đổi số bước sang giai đoạn lấy dữ liệu làm trung tâm, doanh nghiệp không chỉ cần một ngân hàng cung cấp vốn mà cần một đối tác tài chính được tích hợp trực tiếp vào quy trình vận hành. Đó là nền tảng để HDBank chính thức mở rộng hệ sinh thái tài chính số thông qua hợp tác với MISA, đưa các giải pháp tài chính hiện đại đến cộng đồng doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên cả nước.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17596 17869 18449
CAD 17977 18252 18867
CHF 31858 32239 32882
CNY 0 3832 3925
EUR 29378 29599 30674
GBP 34022 34412 35346
HKD 0 3224 3426
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14606 15191
SGD 19760 20042 20608
THB 705 768 822
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,495 29,519 30,903
JPY 157.28 157.56 166.96
GBP 34,202 34,295 35,459
AUD 17,810 17,874 18,532
CAD 18,155 18,213 18,870
CHF 32,110 32,210 33,124
SGD 19,890 19,952 20,716
CNY - 3,803 3,945
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.56 16.23 17.64
THB 752.88 762.18 814.84
NZD 14,583 14,718 15,141
SEK - 2,660 2,752
DKK - 3,946 4,082
NOK - 2,604 2,695
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,021.97 - 6,792.46
TWD 745.87 - 902.82
SAR - 6,882.79 7,243.76
KWD - 83,142 88,388
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26466
AUD 17776 17876 18801
CAD 18156 18256 19270
CHF 32096 32126 33716
CNY 3813.3 3838.3 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29554 29584 31310
GBP 34315 34365 36133
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14713 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19919 20049 20770
THB 0 735 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,136 26,186 26,466
USD20 26,136 26,186 26,466
USD1 23,946 26,186 26,466
AUD 17,841 17,941 19,045
EUR 29,699 29,699 31,108
CAD 18,095 18,195 19,503
SGD 20,004 20,154 20,717
JPY 158.63 160.13 164.69
GBP 34,219 34,569 35,441
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80