Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (7 - 11/10) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục hút ròng trên thị trường mở. Trong khi đó, tỷ giá có dấu hiệu nhích tăng trở lại còn giá vàng nhẫn tuần qua đã giảm bớt sức “nóng” sau nhiều tuần neo ở mức cao.
aa
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ thị hỗ trợ khách hàng thiệt hại do bão lũ Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền trên thị trường mở, giá vàng nhẫn tăng mạnh

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng

Từ đầu tuần đến nay, NHNN tiếp tục hút ròng hơn 10.000 tỷ đồng trên thị trường mở. Trong 5 phiên liên tiếp từ đầu tuần đến nay (từ 7/10 đến 11/10), Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu mỗi phiên 3.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, song đều không có khối lượng trúng thầu.

Khối lượng đáo hạn trong phiên này là 10.339 tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước không chào thầu tín phiếu. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 10.339 tỷ đồng từ thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở tính từ đầu tuần đến nay.

Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”
Đà tăng lãi suất huy động cũng đang chậm lại. Ảnh: T.L
Trên thị trường dân cư (thị trường 1), đà tăng lãi suất huy động cũng đang chậm lại. Trong 10 ngày đầu tháng 10/2024, mới chỉ có 3 ngân hàng tăng lãi suất huy động (và một ngân hàng giảm lãi suất huy động). Trong khi đó, trong tháng 6/2024 có 23 ngân hàng tăng lãi suất huy động, tháng 7/2024 có 19 ngân hàng tăng lãi suất, tháng 8/2024 có 15 ngân hàng tăng lãi suất và tháng 9/2024 có 12 ngân hàng tăng lãi suất.

Trước đó, trong tuần qua (30/09 - 04/10), Ngân hàng Nhà nước cũng đã hút ròng 56.567,68 tỷ đồng trên kênh cầm cố. Ngân hàng Nhà nước “ế” vốn trong bối cảnh thanh khoản hệ thống vẫn ổn định, tín dụng 9 tháng tăng trưởng vẫn chậm dù đã bứt tốc đáng kể trong tháng 9/2024.

Tuần qua, NHNN cũng công bố kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý IV/2024 đối với các tổ chức tín dụng, đa phần các ngân hàng kỳ vọng, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng bình quân 4,8% trong quý IV/2024 và 13,2% trong năm 2024 (điều chỉnh giảm 0,9 điểm phần trăm so với mức dự báo 14,1% tại kỳ điều tra trước).

Kết quả điều tra cũng cho thấy, tình hình kinh doanh tổng thể và lợi nhuận trước thuế của hệ thống ngân hàng trong quý III/2024 có cải thiện nhưng chưa đạt được như kỳ vọng ở kỳ điều tra trước. Khoảng 71,9% - 76,3% tổ chức tín dụng kỳ vọng, tình hình kinh doanh sẽ khả quan hơn trong quý IV/2024 và cả năm 2024.

Tại kỳ điều tra này, tỷ lệ các tổ chức tín dụng kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng trưởng dương so với năm 2023 là 79,6% (điều chỉnh giảm so với tỷ lệ kỳ vọng 86,2% tổ chức tín dụng có cùng kỳ vọng tại kỳ điều tra trước). Bên cạnh đó, vẫn có 15,9% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận tăng trưởng âm trong năm 2024 (cao hơn tỷ lệ 11% tổ chức tín dụng kỳ vọng tại kỳ điều tra trước) và 4,4% ước tính lợi nhuận không thay đổi.

Trong khi đó, lãi suất giao dịch liên ngân hàng tiếp tục sụt giảm. Ngày 10/10, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng chỉ còn 3,31%, giảm 0,06% so với phiên giao dịch trước đó. So với tuần trước, lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã giảm gần 0,7%.

Giá vàng nhẫn đã giảm sức “nóng”

Trong tuần giá vàng SJC cũng có những phiên biến động mạnh, giá vàng miếng SJC trong nước ngày 8/10 lại tăng thêm 1 triệu đồng/lượng, lên mức 85 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 83 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào. Sau đó, ngày 10/10 giá vàng miếng giảm 500 nghìn đồng lượng và giữ giá đi ngang trong phiên giao dịch cuối tuấn.

Chốt tuần, vàng miếng SJC tăng 500 nghìn đồng/ lượng so với tuần trước đó. Giá vàng ngày 11/10 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 84,5 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 82,5 triệu đồng/lượng. Với mốc giá trên, vàng miếng SJC đang cao hơn giá vàng quốc tế là 4,5 triệu đồng/lượng.

Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”
Giá vàng nhẫn đã giảm sức “nóng”. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn sau một thời gian tăng liên tục đã có dấu hiệu giảm sức “nóng”. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 11/10 tại DOIJ giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 82,30 triệu đồng/lượng trong khi bán ra tại 83,20 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn lên mức 82,25 - 83,20 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Bảo Tín Minh Châu giá vàng nhẫn ở mức 82,28 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 83,18 triệu đồng/lượng. Như vậy so với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm từ 300-500 nghìn đồng/lượng.

Giá vàng trong nước biến động liên tục trong những ngày qua, do ảnh hưởng từ giá vàng thế giới. Trên thị trường quốc tế, kim loại quý lao dốc mạnh trong những phiên gần đây. Giá vàng thế giới suy yếu trong bối cảnh giá trị đồng USD tăng cao. Giá dầu thô giảm về quanh mức 73,25 USD/thùng. Lãi suất trái phiếu Mỹ đạt hơn 4%, kích thích nhà đầu tư mua trái phiếu, khiến sức mua trên các sàn vàng yếu ớt…

Tỷ giá nhích tăng

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 7/10 ghi nhận ở mức 24.133 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm liên tục trong 2 ngày thứ Ba và thứ Tư, sau đó giữ ổn định vào ngày thứ Năm và tăng nhẹ vào hôm thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.172 đồng/USD, tăng 39 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng từ đầu tháng 10 đến nay, hôm 1/10 tỷ giá ghi nhận là 24.081 đồng/USD, nhưng liên tục được điều chỉnh tăng từng ngày từ thời điểm đó đến nay và đến ngày 11/10 đã tăng lên mức 24.172 đồng/USD.

Cùng chung quỹ đạo này, tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại cũng luôn được điều chỉnh tăng từ đầu tháng. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ hai đầu tuần là 24.940 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng mạnh tỷ giá bán ra trong hôm thứ Ba, nhưng sau đó giữ nguyên và tăng nhẹ tỷ giá trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.030 đồng/USD, tăng 90 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm 1/10 ghi nhận mức 24.770 đồng/USD và đến nay đã vượt lên trên mốc 25.000 đồng/USD.

Tỷ giá trong nước theo đó đang có diễn biến đồng nhịp theo xu hướng tăng giá của đồng USD trên thị trường quốc tế trong vòng hơn 1 tuần trở lại đây. Đầu tháng 10, đồng USD vẫn ở mức dưới 101 điểm, cũng là mức đáy thấp nhất trong khoảng hơn 2 năm trở lại đây. Tuy nhiên, đồng tiền này bất ngờ tăng giá mạnh chỉ trong ít ngày lên mức trên 102 điểm vào hôm 4/10 và duy trì ở mặt bằng này suốt từ đó đến nay./.

Chỉ số DXY tăng mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu tăng mạnh tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 11/10 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 102,84 điểm, tăng mạnh so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 144,200
Hà Nội - PNJ 140,700 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,700 144,200
Miền Tây - PNJ 140,700 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,700 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 14,480
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,790 14,390
Trang sức 99.99 13,800 14,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 19/08/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18070 18345 18924
CAD 18341 18617 19234
CHF 31588 31968 32616
CNY 0 3830 3940
EUR 29673 29895 30979
GBP 34605 34997 35938
HKD 0 3207 3410
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15671
SGD 19948 20230 20801
THB 707 770 823
USD (1,2) 25917 0 0
USD (5,10,20) 25957 0 0
USD (50,100) 25986 26000 26370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18250 18350 19281
CAD 18525 18625 19639
CHF 31844 31874 33452
CNY 3822.6 3847.6 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29855 29885 31610
GBP 34920 34970 36728
HKD 0 3330 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15188 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20104 20234 20966
THB 0 736.1 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Cập nhật: 19/08/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80