Thị trường tiền tệ tuần 23 – 27/9:

Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền trên thị trường mở, giá vàng nhẫn tăng mạnh

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (23 - 27/8) là việc Ngân hàng Nhà bơm mạnh tiền trên thị trường mở. Trong khi đó, giá vàng miếng SJC tuần qua tăng 1,5 triệu đồng/lượng, vàng nhẫn tiếp tục “nổi sóng” "xô đổ" kỷ lục trước đó và lần đầu ngang với giá vàng miếng SJC; tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm.
aa

"Bơm" mạnh tiền trên thị trường mở

Các ngày trong tuần, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục có động thái bơm mạnh tiền trên thị trường mở. Cụ thể, 26/9, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm ròng gần 8.000 tỷ đồng ra thị trường qua kênh cầm cố, lãi suất trúng thầu giữ nguyên ở mức 4%.

Trước đó, trong phiên ngày 25/9, qua kênh cầm cố, NHNN chào thầu 15.000 tỷ đồng, kỳ hạn 07 ngày, lãi suất giữ ở mức 4,0%. Có 14.999,99 tỷ đồng trúng thầu và không có khối lượng đáo hạn trong phiên hôm qua. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN. Như vậy, NHNN đã bơm ròng 14.999,99 tỷ đồng thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố là 40.021,38 tỷ đồng, không còn tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền trên thị trường mở, giá vàng nhẫn tăng mạnh
Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền trên thị trường mở. Ảnh: T.L
Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước đã ký ban hành Chỉ thị số 04/CT-NHNN về các giải pháp của ngành ngân hàng nhằm góp phần hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của cơn bão số 3 (bão Yagi) khôi phục và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay cho vay khách hàng theo quy định pháp luật hiện hành; thực hiện chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ giữ nguyên nhóm nợ, khoanh nợ, cho vay mới đối với khách hàng thuộc đối tượng theo quy định...

Còn trong phiên ngày 24/9, NHNN chào thầu 25.000 tỷ đồng trên kênh OMO với kỳ hạn và lãi suất tương tự. Kết quả, có 23.046,31 tỷ đồng trúng thầu và có 524,09 tỷ đồng đáo hạn. Theo đó NHNN đã bơm ròng 22.522,22 tỷ đồng thông qua nghiệp vụ thị trường mở trong phiên 24/9. Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố là 25.021,39 tỷ đồng, không còn tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Việc tăng quy mô cho vay cầm cố giấy tờ có giá cho thấy sự nhất quán của NHNN trong việc hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng. Qua đó thiết lập một mặt bằng lãi suất liên ngân hàng thấp hơn trong thời gian tới. Đồng thời, sự điều chỉnh của NHNN cũng được đánh giá là phù hợp trong bối cảnh tỷ giá giảm sâu trong những tuần gần đây và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã giảm lãi suất cơ bản 0,5 điểm % trong cuộc họp tháng 9.

Thực tế, sau khi NHNN tăng mạnh cho vay trên OMO, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt. Ngày 25/09, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm từ 0,02 - 0,07%/năm ở các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước đó. Cụ thể, lãi suất qua đêm ở mức 4,20%; 1 tuần là 4,35%; 2 tuần 4,38% và 1 tháng 4,32%. Trong khi đó cách đấy 1 tuần ngày 19/9, lãi suất qua đêm giao dịch ở mức 3,22%; 1 tuần 3,43%; 2 tuần là 3,67%...

Giá vàng nhẫn tăng mạnh tiếp tục "xô đổ" kỷ lục trước đó

Vàng miếng SJC tuần qua đã tăng 1,5 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó. Giá vàng ngày 27/9 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 83,5 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 81,5 triệu đồng/lượng.

Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền trên thị trường mở, giá vàng nhẫn tăng mạnh
Giá vàng nhẫn tăng mạnh tiếp tục "xô đổ" kỷ lục trước đó. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục có một tuần tăng ấn tượng, có thời điểm giá vàng nhẫn đã tăng ngang với quá vàng miếng SJC. Tại thời điểm 16 giờ 30 phút ngày 27/9, tại DOJI, giá vàng nhẫn tăng chóng mặt với chiều mua niêm yết ở mức 82,75 triệu đồng/lượng trong khi bán ra tại 83,45 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn lên mức 82,3 - 83,4 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra.

Bảo Tín Minh Châu giá vàng nhẫn ở mức 82,54 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 83,44 triệu đồng/lượng. Chỉ trong tháng 9 này, giá vàng bán ra tại Bảo Tín Minh Châu đã tăng hơn 6%. Như với sản phẩm vàng nhẫn tròn trơn của Bảo Tín Minh Châu, việc mua đi bán lại trong vòng một tháng đã có thể thu về gần 4 triệu đồng mỗi lượng.

So với đầu năm, mỗi lượng nhẫn tròn trơn đã tăng 20 triệu đồng/lượng, tương đương với mức sinh lời trên 31%. Trong khi đó, vàng miếng ghi nhận mức tăng chỉ khoảng 13%.

Trên thị trường quốc tế, tuần qua giá vàng tiếp tục xác lập kỷ lục 2.685 USD một ounce. Quy đổi theo tỷ giá bán Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương 80,2 triệu đồng một lượng, thấp hơn vàng trong nước 3-3,3 triệu đồng một lượng.

Dự báo từ các ngân hàng hàng đầu thế giới đều chung góc nhìn lạc quan về kim loại quý. Theo đó, mốc 2.700 USD nhiều khả năng sẽ đạt được trong năm nay hoặc đầu năm sau. Động lực chính cho đà tăng của kim loại quý là các đợt cắt giảm lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed), cộng với các yếu tố hỗ trợ như bất ổn địa chính trị và lực mua vàng từ các ngân hàng trung ương.

Tỷ giá tiếp tục điều chỉnh giảm

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 23/9 ghi nhận ở mức 24.148 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá trung tâm liên tục trong 2 ngày thứ Ba và thứ Năm, tăng vào ngày thứ Tư, sau đó giảm mạnh vào hôm thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.105 đồng/USD, giảm 43 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ hai đầu tuần là 24.740 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng tỷ giá bán ra trong hôm thứ 3, nhưng giảm liên tục trong hôm thứ Tư và thứ Năm và điều chỉnh tăng vào hôm thứ Sáu. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 24.800 đồng/USD, tăng 60 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Theo giới phân tích, áp lực về tỷ giá đã không còn quá lớn nên NHNN có thể tập trung vào mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và kích thích đầu tư, tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, cơ chế truyền dẫn lãi suất giữa thị trường 1 và thị trường 2 cùng với chất lượng tăng trưởng tín dụng vẫn là vấn đề cần lưu ý. Sắp tới, NHNN cũng sẽ đưa ra một số chính sách cơ cấu nợ, miễn giảm lãi cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão Yagi với quy mô dư nợ bị ảnh hưởng ước tính khoảng 116.000 tỷ đồng, xấp xỉ 0,8% tổng dư nợ toàn hệ thống tại thời điểm cuối tháng 6/2024.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu hướng nhích tăng vào những ngày giữa tuần, nhưng sau đó giảm vào cuối tuần. Tại thời điểm chiều ngày 27/9 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 100,55 điểm, giảm nhẹ so với cuối tuần trước./.
Mai Tấn

Đọc thêm

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

(TBTCO) - Báo cáo tài chính năm 2025 của Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh; mã Ck: BMI) ghi nhận ý kiến kiểm toán ngoại trừ, trong đó đáng chú ý khoản “tài sản thiếu chờ xử lý” có giá trị hơn 155,9 tỷ đồng.
Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 795/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính. Qua đó, chuẩn hóa quy trình, tăng tính minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia, hoạt động trên thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 5/4 không thay đổi so với phiên trước đó, với mức giá phổ biến quanh vùng 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,010 17,310
Kim TT/AVPL 17,020 17,320
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 17,300
Nguyên Liệu 99.99 15,900 16,100
Nguyên Liệu 99.9 15,850 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,700 17,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,630 17,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,010 17,310
Miếng SJC Nghệ An 17,010 17,310
Miếng SJC Thái Bình 17,010 17,310
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,990 17,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,990 17,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,990 17,290
NL 99.90 15,570
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600
Trang sức 99.9 16,480 17,180
Trang sức 99.99 16,490 17,190
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,701 17,312
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,701 17,313
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Cập nhật: 07/04/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17984 18559
CAD 18384 18661 19278
CHF 32356 32739 33382
CNY 0 3470 3830
EUR 29784 30056 31084
GBP 34085 34475 35406
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14753 15340
SGD 19969 20252 20777
THB 726 789 842
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 29,921 29,945 31,183
JPY 161.04 161.33 170.01
GBP 34,279 34,372 35,342
AUD 17,911 17,976 18,542
CAD 18,594 18,654 19,224
CHF 32,590 32,691 33,448
SGD 20,106 20,169 20,839
CNY - 3,765 3,884
HKD 3,303 3,313 3,430
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.69 782.23 832.35
NZD 14,733 14,870 15,219
SEK - 2,746 2,826
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,658 2,735
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,120.28 - 6,866.72
TWD 744.75 - 896.66
SAR - 6,916.03 7,240.79
KWD - 83,758 88,569
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 29,746 29,865 31,038
GBP 34,127 34,264 35,261
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,283 32,413 33,322
JPY 161.08 161.73 168.99
AUD 17,806 17,878 18,462
SGD 20,102 20,183 20,758
THB 786 789 823
CAD 18,539 18,613 19,172
NZD 14,742 15,268
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26361
AUD 17890 17990 18918
CAD 18570 18670 19685
CHF 32607 32637 34219
CNY 3766.3 3791.3 3926.6
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29973 30003 31731
GBP 34390 34440 36193
HKD 0 3355 0
JPY 161.68 162.18 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20136 20266 20987
THB 0 755.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17010000 17010000 17310000
SBJ 16000000 16000000 17310000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,361
USD20 26,167 26,217 26,361
USD1 26,167 26,217 26,361
AUD 17,880 17,980 19,089
EUR 30,038 30,038 31,451
CAD 18,493 18,593 19,898
SGD 20,169 20,319 21,335
JPY 162 163.5 168.05
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,008,000 0 17,312,000
CNY 0 3,677 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/04/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80