Thị trường tiền tệ tuần 23 – 27/9:

Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền trên thị trường mở, giá vàng nhẫn tăng mạnh

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (23 - 27/8) là việc Ngân hàng Nhà bơm mạnh tiền trên thị trường mở. Trong khi đó, giá vàng miếng SJC tuần qua tăng 1,5 triệu đồng/lượng, vàng nhẫn tiếp tục “nổi sóng” "xô đổ" kỷ lục trước đó và lần đầu ngang với giá vàng miếng SJC; tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm.
aa

"Bơm" mạnh tiền trên thị trường mở

Các ngày trong tuần, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục có động thái bơm mạnh tiền trên thị trường mở. Cụ thể, 26/9, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm ròng gần 8.000 tỷ đồng ra thị trường qua kênh cầm cố, lãi suất trúng thầu giữ nguyên ở mức 4%.

Trước đó, trong phiên ngày 25/9, qua kênh cầm cố, NHNN chào thầu 15.000 tỷ đồng, kỳ hạn 07 ngày, lãi suất giữ ở mức 4,0%. Có 14.999,99 tỷ đồng trúng thầu và không có khối lượng đáo hạn trong phiên hôm qua. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN. Như vậy, NHNN đã bơm ròng 14.999,99 tỷ đồng thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố là 40.021,38 tỷ đồng, không còn tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền trên thị trường mở, giá vàng nhẫn tăng mạnh
Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền trên thị trường mở. Ảnh: T.L
Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước đã ký ban hành Chỉ thị số 04/CT-NHNN về các giải pháp của ngành ngân hàng nhằm góp phần hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của cơn bão số 3 (bão Yagi) khôi phục và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay cho vay khách hàng theo quy định pháp luật hiện hành; thực hiện chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ giữ nguyên nhóm nợ, khoanh nợ, cho vay mới đối với khách hàng thuộc đối tượng theo quy định...

Còn trong phiên ngày 24/9, NHNN chào thầu 25.000 tỷ đồng trên kênh OMO với kỳ hạn và lãi suất tương tự. Kết quả, có 23.046,31 tỷ đồng trúng thầu và có 524,09 tỷ đồng đáo hạn. Theo đó NHNN đã bơm ròng 22.522,22 tỷ đồng thông qua nghiệp vụ thị trường mở trong phiên 24/9. Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố là 25.021,39 tỷ đồng, không còn tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Việc tăng quy mô cho vay cầm cố giấy tờ có giá cho thấy sự nhất quán của NHNN trong việc hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng. Qua đó thiết lập một mặt bằng lãi suất liên ngân hàng thấp hơn trong thời gian tới. Đồng thời, sự điều chỉnh của NHNN cũng được đánh giá là phù hợp trong bối cảnh tỷ giá giảm sâu trong những tuần gần đây và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã giảm lãi suất cơ bản 0,5 điểm % trong cuộc họp tháng 9.

Thực tế, sau khi NHNN tăng mạnh cho vay trên OMO, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt. Ngày 25/09, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm từ 0,02 - 0,07%/năm ở các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước đó. Cụ thể, lãi suất qua đêm ở mức 4,20%; 1 tuần là 4,35%; 2 tuần 4,38% và 1 tháng 4,32%. Trong khi đó cách đấy 1 tuần ngày 19/9, lãi suất qua đêm giao dịch ở mức 3,22%; 1 tuần 3,43%; 2 tuần là 3,67%...

Giá vàng nhẫn tăng mạnh tiếp tục "xô đổ" kỷ lục trước đó

Vàng miếng SJC tuần qua đã tăng 1,5 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó. Giá vàng ngày 27/9 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 83,5 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 81,5 triệu đồng/lượng.

Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền trên thị trường mở, giá vàng nhẫn tăng mạnh
Giá vàng nhẫn tăng mạnh tiếp tục "xô đổ" kỷ lục trước đó. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục có một tuần tăng ấn tượng, có thời điểm giá vàng nhẫn đã tăng ngang với quá vàng miếng SJC. Tại thời điểm 16 giờ 30 phút ngày 27/9, tại DOJI, giá vàng nhẫn tăng chóng mặt với chiều mua niêm yết ở mức 82,75 triệu đồng/lượng trong khi bán ra tại 83,45 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn lên mức 82,3 - 83,4 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra.

Bảo Tín Minh Châu giá vàng nhẫn ở mức 82,54 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 83,44 triệu đồng/lượng. Chỉ trong tháng 9 này, giá vàng bán ra tại Bảo Tín Minh Châu đã tăng hơn 6%. Như với sản phẩm vàng nhẫn tròn trơn của Bảo Tín Minh Châu, việc mua đi bán lại trong vòng một tháng đã có thể thu về gần 4 triệu đồng mỗi lượng.

So với đầu năm, mỗi lượng nhẫn tròn trơn đã tăng 20 triệu đồng/lượng, tương đương với mức sinh lời trên 31%. Trong khi đó, vàng miếng ghi nhận mức tăng chỉ khoảng 13%.

Trên thị trường quốc tế, tuần qua giá vàng tiếp tục xác lập kỷ lục 2.685 USD một ounce. Quy đổi theo tỷ giá bán Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương 80,2 triệu đồng một lượng, thấp hơn vàng trong nước 3-3,3 triệu đồng một lượng.

Dự báo từ các ngân hàng hàng đầu thế giới đều chung góc nhìn lạc quan về kim loại quý. Theo đó, mốc 2.700 USD nhiều khả năng sẽ đạt được trong năm nay hoặc đầu năm sau. Động lực chính cho đà tăng của kim loại quý là các đợt cắt giảm lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed), cộng với các yếu tố hỗ trợ như bất ổn địa chính trị và lực mua vàng từ các ngân hàng trung ương.

Tỷ giá tiếp tục điều chỉnh giảm

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 23/9 ghi nhận ở mức 24.148 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá trung tâm liên tục trong 2 ngày thứ Ba và thứ Năm, tăng vào ngày thứ Tư, sau đó giảm mạnh vào hôm thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.105 đồng/USD, giảm 43 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ hai đầu tuần là 24.740 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng tỷ giá bán ra trong hôm thứ 3, nhưng giảm liên tục trong hôm thứ Tư và thứ Năm và điều chỉnh tăng vào hôm thứ Sáu. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 24.800 đồng/USD, tăng 60 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Theo giới phân tích, áp lực về tỷ giá đã không còn quá lớn nên NHNN có thể tập trung vào mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và kích thích đầu tư, tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, cơ chế truyền dẫn lãi suất giữa thị trường 1 và thị trường 2 cùng với chất lượng tăng trưởng tín dụng vẫn là vấn đề cần lưu ý. Sắp tới, NHNN cũng sẽ đưa ra một số chính sách cơ cấu nợ, miễn giảm lãi cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão Yagi với quy mô dư nợ bị ảnh hưởng ước tính khoảng 116.000 tỷ đồng, xấp xỉ 0,8% tổng dư nợ toàn hệ thống tại thời điểm cuối tháng 6/2024.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu hướng nhích tăng vào những ngày giữa tuần, nhưng sau đó giảm vào cuối tuần. Tại thời điểm chiều ngày 27/9 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 100,55 điểm, giảm nhẹ so với cuối tuần trước./.
Mai Tấn

Đọc thêm

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - OCB vừa chốt ngày 1/7 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ 15%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành gần 399,46 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm gần 4.000 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng, củng cố năng lực tài chính và nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

(TBTCO) - Sau khi chồng qua đời vì ung thư chỉ hơn 8 tháng kể từ ngày tham gia bảo hiểm "Bảo an tín dụng" của ABIC, bà Nguyễn Thị Ngọc Thiêu đã khởi kiện, yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Liên quan đến vụ tranh chấp này, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Bản án số 507/2026/DS-PT và đưa ra phán quyết đối với yêu cầu của các bên.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,880 15,130
Kim TT/AVPL 14,900 15,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,900 15,150
Nguyên Liệu 99.99 13,950 ▼200K 14,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,900 ▼200K 14,100 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,830 ▼50K 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,830 ▼50K 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,830 ▼50K 15,130
NL 99.90 13,750 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800 ▼100K
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17925 18199 18775
CAD 18105 18380 18996
CHF 32144 32526 33177
CNY 0 3848 3940
EUR 29584 29806 30881
GBP 34051 34441 35372
HKD 0 3227 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14867 15457
SGD 19860 20142 20718
THB 719 782 835
USD (1,2) 26055 0 0
USD (5,10,20) 26096 0 0
USD (50,100) 26125 26139 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,845 29,869 31,222
JPY 159.52 159.81 169.05
GBP 34,469 34,562 35,672
AUD 18,199 18,265 18,908
CAD 18,330 18,389 19,021
CHF 32,583 32,684 33,560
SGD 20,041 20,103 20,844
CNY - 3,821 3,958
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.9 16.58 18
THB 769.42 778.92 831.73
NZD 14,933 15,072 15,478
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,993 4,124
NOK - 2,696 2,785
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,011.37 - 6,771.77
TWD 753.5 - 910.67
SAR - 6,900.43 7,250.85
KWD - 83,423 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26431
AUD 18109 18209 19134
CAD 18285 18385 19399
CHF 32390 32420 34002
CNY 3829.1 3854.1 3989.8
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29770 29800 31525
GBP 34359 34409 36167
HKD 0 3355 0
JPY 160.31 160.81 171.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14985 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20021 20151 20879
THB 0 748.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15500000
SBJ 13500000 13500000 15500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,431
USD20 26,151 26,201 26,431
USD1 23,915 26,201 26,431
AUD 18,201 18,301 19,408
EUR 30,019 30,019 31,578
CAD 18,270 18,370 19,673
SGD 20,137 20,287 20,852
JPY 160.8 162.3 166.84
GBP 34,431 34,781 35,653
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,744 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80