Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần

Mai Tấn
(TBTCO) - Tuần qua ghi nhận giai đoạn các ngân hàng công bố báo cáo tài chính quý II/2024 với nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục. Bên cạnh đó, thị trường tiền tệ tuần qua ghi nhận xu hướng tăng lãi suất huy động của một số ngân hàng, trong khi đó tỷ giá tăng nhẹ đầu tuần sau đó giảm mạnh vào cuối tuần.
aa

Lợi nhuận có sự phân hóa giữa các ngân hàng

Đến thời điểm hiện tại, hầu hết các ngân hàng trong số các ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý II/2024 ghi nhận kết quả kinh doanh tăng mạnh. Mới đây, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2024 với lợi nhuận trước thuế đạt 8.159 tỷ đồng, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước. Luỹ kế 6 tháng, lãi trước thuế đạt 15.549 tỷ đồng, tăng 12,1%. Đây là mức lợi nhuận quý kỷ lục từ trước đến nay của ngân hàng này.

Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần
Nhiều ngân hàng ghi nhận kết quả kinh doanh tăng mạnh trong quý II/2024. Ảnh: T.L
Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng Nhà nước về lợi nhuận ngân hàng trong cả năm 2024, có 86,2% tổ chức tín dụng dự báo lợi nhuận trước thuế sẽ tăng so với năm 2023 trong khi 10,1% lo ngại sẽ giảm và 3,7% nhận định sẽ không thay đổi.

Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cũng công bố kết quả kinh doanh 2 quý đầu năm tăng mạnh. Theo đó, lợi nhuận trước thuế quý II đạt 7.827 tỷ đồng, tăng 38,5% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 6 tháng đạt 15.628 tỷ đồng, tăng trưởng 38,6% so với 6 tháng đầu năm 2023.

Cũng ghi nhận mức lợi nhuận tăng mạnh nhất từ trước cho tới nay, trong quý II/2024, Ngân hàng TPCM Á Châu (ACB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 5.598 tỷ đồng, tăng trưởng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức lợi nhuận cao nhất từ trước đến nay của ACB. Lợi nhuận trước thuế nửa đầu năm đạt 10.491 tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ và thực hiện được khoảng 47,7% kế hoạch năm.

Kết quả khảo sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, 72,7% tổ chức tín dụng cho rằng, tình hình kinh doanh sẽ khởi sắc hơn trong quý II và suốt cả năm 2024. Về lợi nhuận trước thuế quý II, có 57,3% tổ chức tín dụng kỳ vọng sẽ có sự tăng trưởng so với quý I/2024, 30,9% dự báo giữ nguyên và 11,8% lo ngại sẽ giảm.

Giá vàng miếng SJC tiếp tục tăng

Sau đợt tăng mạnh giá bán vàng miếng SJC trong ngày 18/7, Ngân hàng Nhà nước liên tiếp điều chỉnh giá bán vàng miếng trong ngày 30/7 và 1/8. Cụ thể, trong ngày 30/7, căn cứ phương án bán vàng miếng SJC trực tiếp cho 4 ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty TNHH MTV vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt, giá bán vàng miếng trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước là 78 triệu đồng/lượng, giảm 500.000 đồng/lượng. Sau đó, trong ngày 1/8 giá bán vàng miếng trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước là 78,8 triệu đồng/lượng, tăng 800.000 đồng/lượng.

Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần
Ngân hàng nhà nước có 2 lần công bố điều chỉnh giá vàng trong tuần. Ảnh: T.L

Việc Ngân hàng Nhà nước bán vàng trực tiếp cho 4 ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty SJC được triển khai từ ngày 3/6, sau khi biện pháp đấu thầu vàng miếng SJC không đem lại hiệu quả như mong đợi. Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình thu hẹp và kiểm soát chênh lệch giữa giá bán vàng miếng SJC trong nước và giá thế giới ở mức phù hợp.

Tại buổi họp báo quý II/2024 của Ngân hàng Nhà nước diễn ra cách đây ít ngày, Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cho biết, cơ chế bán vàng trực tiếp đã bước đầu phát huy hiệu quả, kiểm soát được giá vàng SJC đối với giá vàng thế giới, không để tạo ra chênh lệch quá lớn. Tuy nhiên, đây cũng là những chính sách trước mắt, còn lâu dài làm sao để căn cơ, phù hợp là vấn đề khó. Ngân hàng Nhà nước khẳng định, thời gian tới sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình thu hẹp và kiểm soát chênh lệch giữa giá bán vàng miếng SJC trong nước và giá thế giới ở mức phù hợp. Theo Phó thống đốc Đào Minh Tú, Ngân hàng Nhà nước cùng các bộ, ngành chức năng đã và đang nghiên cứu để xây dựng chính sách hợp lý đối với quản lý thị trường vàng thời gian tới.

Ngày càng nhiều ngân hàng tăng lãi suất tiết kiệm

Bước sang tháng 8, nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Mức cao nhất lên hơn 6%/năm nhằm hút dòng tiền nhàn rỗi trong dân, nhất là khi các kênh đầu tư khác chưa hồi phục rõ nét. Ngày 1/8, ngân hàng Agribank điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn 1-2 tháng tăng thêm 0,2%/năm, lên mức 1,8%/năm. Lãi suất huy động kỳ hạn 3-5 tháng đồng loạt tăng thêm 0,3%/năm, lên mức 2,2%/năm.

Trong khi đó, các kỳ hạn từ 6-9 tháng có lãi suất mới là 3,2%/năm sau khi tăng thêm 0,2%/năm. Như vậy, 3 trong số 4 ngân hàng thuộc nhóm ngân hàng quốc doanh đã tăng lãi suất huy động kể từ tháng 4.

Cùng ngày, ngân hàng HDBank đã tăng lãi suất huy động đối với các kỳ hạn ngắn. Cụ thể, lãi suất huy động trực tuyến kỳ hạn 1-5 tháng đồng loạt được niêm yết tại mức 3,55%/năm sau khi tăng 0,3%/năm. HDBank tăng thêm 0,2%/năm lãi suất đối với tiền gửi kỳ hạn 6 tháng, lên mức 5,1%/năm. Đây là lần đầu tiên sau nhiều tháng, lãi suất huy động kỳ hạn này vượt ngưỡng 4,9%/năm.

Trong hai tuần trở lại đây, 16 ngân hàng tăng biểu lãi suất từ 0,1% đến 1,3%, gồm MB, VIB, VPBank, Sacombank, ABBank, BVBank, BacABank... Trong đó, ABBank là đơn vị tăng mạnh nhất, với mức điều chỉnh từ 0,6% đến 1,3% cho các khoản tiền gửi trực tuyến kỳ hạn từ 3 tháng trở lên. Gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng tại nhà băng này lãi suất 6,2%, mức cao nhất hệ thống. Tại các ngân hàng khác, lãi suất từ 6% trở lên chỉ xuất hiện nếu khách hàng gửi tiền ở các kỳ hạn dài 15-24 tháng, như ở SeABank, Oceanbank, NCB, BVBank.

Các chuyên gia cho rằng, bước sang quý III, cầu tín dụng bắt đầu phục hồi đòi hỏi các ngân hàng phải tính đến việc huy động thêm vốn để chuẩn bị phục vụ nhu cầu tín dụng trong thời gian tới, nhất là khi room tín dụng 15% đã được Ngân hàng Nhà nước giao ngay từ đầu năm.

Tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần

Tuần qua, tỷ giá đã có diễn biến tăng nhẹ vào đầu tuần nhưng sau đó điều chỉnh giảm mạnh vào cuối tuần. Tỷ giá trung tâm mở đầu tuần hôm 29/7 ở mức 24.261 đồng/USD, tăng nhẹ 3 đồng/USD so với phiên cuối tuần trước. Trong các ngày tiếp theo, tỷ giá trung tâm tiếp tục được NHNN điều chỉnh nhích tăng và ghi nhận ở mức 24.257 đồng/USD vào ngày 30/7. Tuy nhiên, tỷ giá trung tâm giảm mạnh hôm thứ sáu ngày 2/8 về mức 24.245 đồng/USD, giảm 10 đồng/USD so với hôm trước đó và giảm 4 đồng/USD so với cuối tuần trước.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm đầu tuần là 25.461 đồng/USD, giữ ổn định so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, những ngày tiếp theo ngân hàng này đã điều chỉnh giảm mạnh tỷ giá về 24.420 đồng/USD vào hôm thứ Năm và tiếp tục điều chỉnh giảm về mức 24.400 đồng/USD vào hôm thứ Sáu cuối tuần. Chốt tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank giảm 61 đồng/USD so với đầu tuần.

Chỉ số DXY biến động trong biên độ hẹp

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY biến động trong biên độ hẹp và không thể hiện xu hướng rõ ràng. Tại thời điểm chiều ngày 2/8 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 104,24 điểm, giảm nhẹ so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 28 ngân hàng niêm yết đạt gần 312.000 tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 19,8% cùng kỳ. Đằng sau đà tăng trưởng là cuộc đua thứ hạng sôi động, với những màn bứt tốc, đổi ngôi ngay trong nhóm dẫn đầu. Tuy nhiên, bức tranh lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét khi 24 ngân hàng tăng lãi, 4 nhà băng đi lùi.
Mức hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn có thể phát sinh khoản tự chi trả

Mức hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn có thể phát sinh khoản tự chi trả

Mức hưởng bảo hiểm y tế (BHYT) 80%, 95% hoặc 100% được áp dụng đối với chi phí trong phạm vi được hưởng và theo điều kiện thanh toán của pháp luật BHYT, không mặc nhiên tính trên toàn bộ hóa đơn viện phí. Quyền lợi thực tế phụ thuộc vào phạm vi chi trả, danh mục thuốc, vật tư y tế, điều kiện thanh toán và hình thức khám, chữa bệnh.
SACOMBANK bổ nhiệm Quyền Tổng Giám đốc mới, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Đề án tái cơ cấu

SACOMBANK bổ nhiệm Quyền Tổng Giám đốc mới, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Đề án tái cơ cấu

(TBTCO) - SACOMBANK vừa bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Kiều Anh giữ chức Quyền Tổng Giám đốc từ ngày 2/11/2026, thay ông Loic Faussier. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao đặt trong bối cảnh ngân hàng đang đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn tất Đề án tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới tại Trụ sở chính TP. Hồ Chí Minh và khai trương Văn phòng Chi nhánh Hà Nội mới tại tòa nhà BRG Diamond Park Plaza.
Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

(TBTCO) - Trên hành trình đồng hành cùng cộng đồng, những giá trị bền vững thường được tạo nên từ sự thấu hiểu nhu cầu địa phương và những hành động thiết thực.
Giá vàng hôm nay ngày 2/11: Giá vàng trong nước bật tăng 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 2/11: Giá vàng trong nước bật tăng 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 2/11, giá vàng trong nước tăng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn. Cụ thể, đối với phân khúc vàng miếng, giá vàng miếng tại DOJI, SJC và PNJ tăng 1 triệu đồng/lượng, giao dịch ở mức 137 - 140 triệu đồng/lượng.
Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Asahi Mutual Life (Nhật Bản) vừa hoàn tất mua lại 100% vốn MVI Life, đồng thời đổi tên doanh nghiệp thành Asahi Life. Thương vụ đánh dấu bước ngoặt mới trong hành trình nhiều lần thay đổi chủ sở hữu và thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ này. Nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp lãi trước thuế 191,2 tỷ đồng, với danh mục đầu tư hơn 16.300 tỷ đồng.
Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Hà Nội - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Đà Nẵng - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Miền Tây - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Tây Nguyên - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Đông Nam Bộ - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,760 ▲60K 14,060 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 13,760 ▲60K 14,060 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 13,760 ▲60K 14,060 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,530 ▲30K 13,930 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,530 ▲30K 13,930 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,530 ▲30K 13,930 ▲30K
Trang sức 99.9 13,210 ▲30K 13,810 ▲30K
Trang sức 99.99 13,220 ▲30K 13,820 ▲30K
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,376 ▲1239K 14,062 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,376 ▲1239K 14,063 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,337 ▲9K 1,377 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,337 ▲9K 1,378 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,317 ▲9K 1,367 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▲892K 135,347 ▲892K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 92,885 ▲83664K 102,685 ▲92484K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,315 ▲612K 93,115 ▲612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,745 ▲549K 83,545 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,054 ▲525K 79,854 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,736 ▼42248K 5,716 ▼51068K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Cập nhật: 03/11/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17426 17699 18271
CAD 17922 18197 18812
CHF 30884 31261 31901
CNY 0 3819 3915
EUR 28207 28423 29498
GBP 33774 34163 35089
HKD 0 3153 3355
JPY 156 159 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14163 14752
SGD 19574 19855 20430
THB 679 742 795
USD (1,2) 25504 0 0
USD (5,10,20) 25542 0 0
USD (50,100) 25569 25583 25948
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,570 25,570 25,950
USD(1-2-5) 24,548 - -
USD(10-20) 24,548 - -
EUR 28,258 28,281 29,627
JPY 158.56 158.85 168.49
GBP 33,935 34,027 35,209
AUD 17,608 17,672 18,350
CAD 18,096 18,154 18,827
CHF 31,146 31,243 32,167
SGD 19,692 19,753 20,531
CNY - 3,786 3,932
HKD 3,216 3,226 3,362
KRW 17.66 18.42 20.04
THB 727.64 736.63 788.6
NZD 14,150 14,281 14,707
SEK - 2,584 2,677
DKK - 3,791 3,926
NOK - 2,738 2,835
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,905.28 - 6,666.31
TWD 708.96 - 859.03
SAR - 6,744.86 7,105.77
KWD - 81,365 86,591
AED - 6,759 7,285
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,560 25,590 25,970
EUR 28,249 28,391 29,619
GBP 33,915 34,085 35,120
HKD 3,212 3,231 3,349
CHF 30,918 31,073 32,022
JPY 158.43 160.03 168.01
AUD 17,663 17,788 18,384
SGD 19,698 19,877 20,473
THB 733 748 785
CAD 18,042 18,169 18,766
NZD 14,220 14,774
KRW 18.53 20.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25575 25575 25955
AUD 17613 17713 18644
CAD 18098 18198 19211
CHF 31098 31128 32701
CNY 3802 3827 3962.1
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28376 28406 30131
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 159.39 159.89 170.44
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14277 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19735 19865 20586
THB 0 708.2 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13760000 13760000 14060000
SBJ 12000000 12000000 14060000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,451 25,571 25,870
USD20 25,421 25,571 25,870
USD1 25,401 25,571 25,870
AUD 17,560 17,710 18,878
EUR 28,159 28,259 29,920
CAD 18,031 18,131 19,439
SGD 19,805 19,955 20,801
JPY 160.07 161.57 167.15
GBP 33,919 34,069 35,466
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,777 0
THB 0 737 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/11/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30