Vietbank đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh trước thềm niêm yết HoSE

(TBTCO) - Năm 2025, Vietbank sẽ trình kế hoạch kinh doanh với mục tiêu tăng trưởng mạnh mẽ, dư nợ tín dụng tăng 20%, lợi nhuận trước thuế tăng 55%. Đồng thời, ngân hàng cũng dồn dập triển khai hai đợt tăng vốn lên gần 10.920 tỷ đồng trước khi chuẩn bị niêm yết trên HoSE.
aa
Nhiều ngân hàng đối mặt với cơn "sóng ngầm" nhân sự trước thềm đại hội Ngân hàng NCB khởi đầu năm với kết quả lạc quan, sắp tăng vốn lên 19.000 tỷ đồng Một ngân hàng "bé hạt tiêu" đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 70%

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (Vietbank - Mã ck: VBB) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 theo hình thức trực tuyến vào ngày 26/4. Đại hội sẽ thông qua nhiều nội dung quan trọng như định hướng kế hoạch kinh doanh, phương án phân phối lợi nhuận năm 2024, tờ trình tham gia tái cơ cấu Quỹ tín dụng nhân dân...

Đưa lợi nhuận tăng trưởng 55%

Tại đại hội, ban lãnh đạo ngân hàng trình tới các cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2025 với tổng tài sản tăng 11% so với thực hiện năm 2024, ước đạt 180 nghìn tỷ đồng. Vốn huy động gồm giấy tờ có giá mục tiêu tăng 17%, đạt 132 nghìn tỷ đồng.

Theo lãnh đạo ngân hàng, hoạt động kinh doanh còn một số điểm cần phấn đấu để đạt hiệu quả hơn như: sự ổn định của danh mục tín dụng, sử dụng nguồn vốn trên thị trường 2, tăng thu thuần về dịch vụ, tăng nguồn vốn huy động không kỳ hạn và tăng số lượng khách hàng, tận dụng và khai thác tốt hệ thống công nghệ thông tin hiện đại đã trang bị vào việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng...

Phấn đấu tăng trưởng dư nợ tín dụng 20%

Dư nợ tín dụng ước tăng 20%, đạt 112 nghìn tỷ đồng trong năm 2025. Vietbank kỳ vọng đạt lợi nhuận trước thuế 1.750 tỷ đồng, tăng 55% so với mức thực hiện năm 2024; đồng thời duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới mốc 2,5%; chỉ số ROE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) ở mức 13,5%.

Về cơ cấu cổ đông lớn, Chủ tịch Vietbank Dương Nhất Nguyên nắm giữ 34,9 triệu cổ phiếu, tương ứng 4,88% vốn của ngân hàng; Dương Ngọc Hoà hiện giữ 27,1 triệu cổ phiếu (3,81%); Dương Mai Anh 12,6 triệu cổ phiếu VBB (1,76%); Dương Bảo Anh 10 triệu cổ phiếu (1,42%)…

Về phía cổ đông tổ chức, Công ty TNHH Sỹ Phát sở hữu 34,4 triệu cổ phiếu VBB, tương đương 4,81%. Công ty này do bà Quách Tố Dung - Thành viên Hội đồng quản trị Vietbank là người đại diện theo pháp luật, Chủ tịch Hội đồng thành viên, nhưng gần như không có hoạt động kinh doanh.

Vietbank đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh trước thềm niêm yết HoSE
Nguồn: Vietbank.

Kết thúc năm tài chính 2024, tổng tài sản của Vietbank đạt 162.855 tỷ đồng, tăng trưởng 17,8% (mức tăng 24.597 tỷ đồng) và hoàn thành 109% kế hoạch. Trong đó, tổng dư nợ cấp tín dụng chiếm 57,5% tổng tài sản, đạt 93.637 tỷ đồng, tăng 16% (mức tăng 12.883 tỷ đồng) và hoàn thành 98,6% kế hoạch. Tổng vốn huy động (bao gồm tiền gửi của khách hàng và phát hành giấy tờ có giá) đạt 112.520 tỷ đồng, tăng 10,8% (mức tăng 10.973 tỷ đồng) và hoàn thành 97% kế hoạch.

Về kết quả kinh doanh năm 2024, tổng thu nhập hoạt động của Vietbank tăng 46,1% cùng kỳ lên 3.500 tỷ đồng; trong đó, thu nhập lãi thuần đạt 2.812 tỷ đồng, tăng mạnh 40,6%. Các hoạt động khác đem lại lãi thuần đáng kể như hoạt động dịch vụ đạt 137 tỷ đồng (tăng 32,3%); hoạt động kinh doanh ngoại hối đạt 80,2 tỷ đồng (tăng 22,9%)… Riêng lãi hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư giảm sâu 75,5%, chỉ đạt 19 tỷ đồng. Sau khi trừ đi các loại chi phí, lợi nhuận trước thuế của Vietbank vượt mốc 1.000 tỷ đồng, lên 1.131 tỷ đồng, tăng gần 40% cùng kỳ.

Chất lượng tín dụng của Vietbank trong năm 2024 được cải thiện đáng kể, đảm bảo tỷ lệ nợ xấu luôn duy trì dưới mức 3% (tỷ lệ nợ xấu tại ngày 31/12/2024 của Vietbank là 1,86%).

Đẩy mạnh phát hành cổ phiếu, dồn dập hai đợt tăng vốn

Về phương án phân phối lợi nhuận, ngân hàng ghi nhận lợi nhuận năm 2024 sau khi trích lập các quỹ là gần 674 tỷ đồng, lợi nhuận năm 2023 giữ lại chưa phân phối là hơn 165 tỷ đồng. Lợi nhuận chưa phân phối dùng để tăng vốn điều lệ là gần 824 tỷ đồng.

Vietbank đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh trước thềm niêm yết HoSE
Vietbank đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh trước thềm niêm yết HoSE. Ảnh tư liệu.

Theo đó, Vietbank dự kiến dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 3.780 tỷ đồng thông qua hai đợt phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu.

Cụ thể, đợt 1, Vietbank dự kiến phát hành hơn 107 triệu cổ phiếu, với tỷ lệ 15% trên tổng số cố phiếu đang lưu hành cho cổ đông hiện hữu từ nguồn vốn chủ sở hữu (lợi nhuận giữ lại và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ đến 31/12/2024). Thời gian thực hiện dự kiến từ quý II - III/2025. Nếu phát hành thành công, mức vốn điều lệ dự kiến sẽ tăng thêm gần 1.070 tỷ đồng.

Đợt 2, Vietbank dự kiến phát hành thêm gần 271 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (cổ đông góp vốn mới) với giá phát hành 10.000 đồng/cổ phiếu, tương ứng tỷ lệ tăng 33% so với vốn điều lệ đã tăng sau đợt 1.

Việc chào bán cổ phiếu này dự kiến sẽ được thực hiện trong quý III - IV/2025, số cổ phần phát hành trong đợt này cũng không bị hạn chế chuyển nhượng. Mức vốn điều lệ dự kiến tăng thêm tối đa 2.709 tỷ đồng.

Nếu hoàn thành cả hai cấu phần này, vốn điều lệ của Vietbank sẽ tăng từ 7.139 tỷ đồng lên gần 10.920 tỷ đồng. Toàn bộ vốn điều lệ dự kiến tăng thêm 3.780 tỷ đồng dự kiến sử dụng cho việc đầu tư tài sản cố định, hệ thống vốn kinh doanh, phát triển mở rộng mạng lưới...

Ngoài ra, tại Đại hội lần này, ngân hàng cũng dự kiến trình phương án khắc phục dự kiến trong trường hợp được can thiệp sớm tại Ngân hàng theo Luật Các tổ chức tín dụng ban hành ngày 18/1/2024./.

Niêm yết trên HoSE vào năm 2025 hoặc 2026

Về việc triển khai niêm yết cổ phiếu Vietbank, trước đó, đại hội thường niên 2024 đã thông qua việc niêm yết cổ phiếu Vietbank (Mã ck: VBB) tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh(HoSE) khi thời điểm và điều kiện thị trường thuận lợi. Căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh năm 2022, 2023 và phương án cơ cấu lại hoạt động gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025, Vietbank đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật về kết quả kinh doanh, hiệu quả hoạt động, các chỉ số tài chính và quản trị điều hành để thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Tuy nhiên, năm 2024, bối cảnh thị trường và môi trường kinh tế chưa thuận lợi. Thị trường chứng khoán đang chịu tác động từ lạm phát, chính sách lãi suất và diễn biến kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, làm gia tăng rủi ro khi niêm yết. Do đó, Vietbank sẽ cân nhắc lựa chọn thời điểm phù hợp hơn, có thể vào năm 2025 hoặc 2026, nhằm đảm bảo mức định giá cổ phiếu tối ưu khi lên sàn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

(TBTCO) - Chuẩn bị tài chính là một trong những bước quan trọng để hành trình du học diễn ra suôn sẻ. Bên cạnh việc lựa chọn phương thức chuyển tiền phù hợp, phụ huynh và du học sinh cũng cần quan tâm đến phí giao dịch và tỷ giá ngoại tệ để tối ưu chi phí.
Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đang chuyển từ số hóa sang ứng dụng AI, khai thác dữ liệu để tạo giá trị thực chất, thay vì chỉ khoác “một chiếc áo khoác đẹp”. Tuy nhiên, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lưu ý rủi ro an ninh mạng đi kèm, đòi hỏi các ngân hàng phải trang bị “phao”, đưa khả năng chống chịu số trở thành năng lực cốt lõi.
Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm 100.000 - 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch về vùng 137,4 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Góp ý cho việc sửa Luật Bảo hiểm xã hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội, nhưng bảo đảm an toàn phải là điều kiện tiên quyết.
OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

(TBTCO) - OCB vừa bổ nhiệm ông Dương Đức Hùng giữ chức Tổng Giám đốc từ ngày 26/10/2026, đồng thời giao ông Chris Shayan phụ trách chuyển đổi số và phát triển kinh doanh bán lẻ. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao được kỳ vọng củng cố năng lực điều hành, tạo động lực tăng trưởng cho ngân hàng.
ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

(TBTCO) - 9 tháng năm 2026, ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 4.301,3 tỷ đồng, tăng 86,9%, hoàn thành gần 96% kế hoạch năm nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh và kiểm soát tốt chi phí. Dư nợ cho vay của ngân hàng tăng 18,2% so với đầu năm, đạt 134.592 tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ xấu vẫn được kiểm soát ở mức 0,8%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
Trang sức 99.9 13,400 ▼30K 14,000 ▼30K
Trang sức 99.99 13,410 ▼30K 14,010 ▼30K
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,100 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 ▲1248K 14,172 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 ▲1248K 14,173 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Cập nhật: 24/10/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18499
CAD 17919 18194 18811
CHF 30673 31049 31695
CNY 0 3831 3927
EUR 28318 28534 29617
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3164 3367
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15001
SGD 19669 19950 20531
THB 680 743 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 24/10/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30