Vietbank đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh trước thềm niêm yết HoSE

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, Vietbank sẽ trình kế hoạch kinh doanh với mục tiêu tăng trưởng mạnh mẽ, dư nợ tín dụng tăng 20%, lợi nhuận trước thuế tăng 55%. Đồng thời, ngân hàng cũng dồn dập triển khai hai đợt tăng vốn lên gần 10.920 tỷ đồng trước khi chuẩn bị niêm yết trên HoSE.
aa
Nhiều ngân hàng đối mặt với cơn "sóng ngầm" nhân sự trước thềm đại hội Ngân hàng NCB khởi đầu năm với kết quả lạc quan, sắp tăng vốn lên 19.000 tỷ đồng Một ngân hàng "bé hạt tiêu" đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 70%

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (Vietbank - Mã ck: VBB) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 theo hình thức trực tuyến vào ngày 26/4. Đại hội sẽ thông qua nhiều nội dung quan trọng như định hướng kế hoạch kinh doanh, phương án phân phối lợi nhuận năm 2024, tờ trình tham gia tái cơ cấu Quỹ tín dụng nhân dân...

Đưa lợi nhuận tăng trưởng 55%

Tại đại hội, ban lãnh đạo ngân hàng trình tới các cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2025 với tổng tài sản tăng 11% so với thực hiện năm 2024, ước đạt 180 nghìn tỷ đồng. Vốn huy động gồm giấy tờ có giá mục tiêu tăng 17%, đạt 132 nghìn tỷ đồng.

Theo lãnh đạo ngân hàng, hoạt động kinh doanh còn một số điểm cần phấn đấu để đạt hiệu quả hơn như: sự ổn định của danh mục tín dụng, sử dụng nguồn vốn trên thị trường 2, tăng thu thuần về dịch vụ, tăng nguồn vốn huy động không kỳ hạn và tăng số lượng khách hàng, tận dụng và khai thác tốt hệ thống công nghệ thông tin hiện đại đã trang bị vào việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng...

Phấn đấu tăng trưởng dư nợ tín dụng 20%

Dư nợ tín dụng ước tăng 20%, đạt 112 nghìn tỷ đồng trong năm 2025. Vietbank kỳ vọng đạt lợi nhuận trước thuế 1.750 tỷ đồng, tăng 55% so với mức thực hiện năm 2024; đồng thời duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới mốc 2,5%; chỉ số ROE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) ở mức 13,5%.

Về cơ cấu cổ đông lớn, Chủ tịch Vietbank Dương Nhất Nguyên nắm giữ 34,9 triệu cổ phiếu, tương ứng 4,88% vốn của ngân hàng; Dương Ngọc Hoà hiện giữ 27,1 triệu cổ phiếu (3,81%); Dương Mai Anh 12,6 triệu cổ phiếu VBB (1,76%); Dương Bảo Anh 10 triệu cổ phiếu (1,42%)…

Về phía cổ đông tổ chức, Công ty TNHH Sỹ Phát sở hữu 34,4 triệu cổ phiếu VBB, tương đương 4,81%. Công ty này do bà Quách Tố Dung - Thành viên Hội đồng quản trị Vietbank là người đại diện theo pháp luật, Chủ tịch Hội đồng thành viên, nhưng gần như không có hoạt động kinh doanh.

Vietbank đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh trước thềm niêm yết HoSE
Nguồn: Vietbank.

Kết thúc năm tài chính 2024, tổng tài sản của Vietbank đạt 162.855 tỷ đồng, tăng trưởng 17,8% (mức tăng 24.597 tỷ đồng) và hoàn thành 109% kế hoạch. Trong đó, tổng dư nợ cấp tín dụng chiếm 57,5% tổng tài sản, đạt 93.637 tỷ đồng, tăng 16% (mức tăng 12.883 tỷ đồng) và hoàn thành 98,6% kế hoạch. Tổng vốn huy động (bao gồm tiền gửi của khách hàng và phát hành giấy tờ có giá) đạt 112.520 tỷ đồng, tăng 10,8% (mức tăng 10.973 tỷ đồng) và hoàn thành 97% kế hoạch.

Về kết quả kinh doanh năm 2024, tổng thu nhập hoạt động của Vietbank tăng 46,1% cùng kỳ lên 3.500 tỷ đồng; trong đó, thu nhập lãi thuần đạt 2.812 tỷ đồng, tăng mạnh 40,6%. Các hoạt động khác đem lại lãi thuần đáng kể như hoạt động dịch vụ đạt 137 tỷ đồng (tăng 32,3%); hoạt động kinh doanh ngoại hối đạt 80,2 tỷ đồng (tăng 22,9%)… Riêng lãi hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư giảm sâu 75,5%, chỉ đạt 19 tỷ đồng. Sau khi trừ đi các loại chi phí, lợi nhuận trước thuế của Vietbank vượt mốc 1.000 tỷ đồng, lên 1.131 tỷ đồng, tăng gần 40% cùng kỳ.

Chất lượng tín dụng của Vietbank trong năm 2024 được cải thiện đáng kể, đảm bảo tỷ lệ nợ xấu luôn duy trì dưới mức 3% (tỷ lệ nợ xấu tại ngày 31/12/2024 của Vietbank là 1,86%).

Đẩy mạnh phát hành cổ phiếu, dồn dập hai đợt tăng vốn

Về phương án phân phối lợi nhuận, ngân hàng ghi nhận lợi nhuận năm 2024 sau khi trích lập các quỹ là gần 674 tỷ đồng, lợi nhuận năm 2023 giữ lại chưa phân phối là hơn 165 tỷ đồng. Lợi nhuận chưa phân phối dùng để tăng vốn điều lệ là gần 824 tỷ đồng.

Vietbank đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh trước thềm niêm yết HoSE
Vietbank đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh trước thềm niêm yết HoSE. Ảnh tư liệu.

Theo đó, Vietbank dự kiến dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 3.780 tỷ đồng thông qua hai đợt phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu.

Cụ thể, đợt 1, Vietbank dự kiến phát hành hơn 107 triệu cổ phiếu, với tỷ lệ 15% trên tổng số cố phiếu đang lưu hành cho cổ đông hiện hữu từ nguồn vốn chủ sở hữu (lợi nhuận giữ lại và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ đến 31/12/2024). Thời gian thực hiện dự kiến từ quý II - III/2025. Nếu phát hành thành công, mức vốn điều lệ dự kiến sẽ tăng thêm gần 1.070 tỷ đồng.

Đợt 2, Vietbank dự kiến phát hành thêm gần 271 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (cổ đông góp vốn mới) với giá phát hành 10.000 đồng/cổ phiếu, tương ứng tỷ lệ tăng 33% so với vốn điều lệ đã tăng sau đợt 1.

Việc chào bán cổ phiếu này dự kiến sẽ được thực hiện trong quý III - IV/2025, số cổ phần phát hành trong đợt này cũng không bị hạn chế chuyển nhượng. Mức vốn điều lệ dự kiến tăng thêm tối đa 2.709 tỷ đồng.

Nếu hoàn thành cả hai cấu phần này, vốn điều lệ của Vietbank sẽ tăng từ 7.139 tỷ đồng lên gần 10.920 tỷ đồng. Toàn bộ vốn điều lệ dự kiến tăng thêm 3.780 tỷ đồng dự kiến sử dụng cho việc đầu tư tài sản cố định, hệ thống vốn kinh doanh, phát triển mở rộng mạng lưới...

Ngoài ra, tại Đại hội lần này, ngân hàng cũng dự kiến trình phương án khắc phục dự kiến trong trường hợp được can thiệp sớm tại Ngân hàng theo Luật Các tổ chức tín dụng ban hành ngày 18/1/2024./.

Niêm yết trên HoSE vào năm 2025 hoặc 2026

Về việc triển khai niêm yết cổ phiếu Vietbank, trước đó, đại hội thường niên 2024 đã thông qua việc niêm yết cổ phiếu Vietbank (Mã ck: VBB) tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh(HoSE) khi thời điểm và điều kiện thị trường thuận lợi. Căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh năm 2022, 2023 và phương án cơ cấu lại hoạt động gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025, Vietbank đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật về kết quả kinh doanh, hiệu quả hoạt động, các chỉ số tài chính và quản trị điều hành để thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Tuy nhiên, năm 2024, bối cảnh thị trường và môi trường kinh tế chưa thuận lợi. Thị trường chứng khoán đang chịu tác động từ lạm phát, chính sách lãi suất và diễn biến kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, làm gia tăng rủi ro khi niêm yết. Do đó, Vietbank sẽ cân nhắc lựa chọn thời điểm phù hợp hơn, có thể vào năm 2025 hoặc 2026, nhằm đảm bảo mức định giá cổ phiếu tối ưu khi lên sàn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

(TBTCO) - Sáng 16/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.243 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần 55 đồng. Chỉ số DXY giảm 0,04% còn 100,48 điểm sau khi lạm phát Mỹ thấp hơn kỳ vọng, củng cố quan điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục "chờ và quan sát", trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada giữ nguyên lãi suất 2,25%.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 ▼30K 14,610 ▼30K
Trang sức 99.99 13,920 ▼30K 14,620 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 ▼3K 14,822 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 ▼3K 14,823 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 ▼8K 1,472 ▲1324K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 ▼8K 1,473 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,412 ▲1270K 1,452 ▲1306K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 ▼792K 143,762 ▼792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼600K 109,061 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,096 ▲80132K 98,896 ▲88952K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,931 ▼488K 88,731 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,501 ▼67976K 8,481 ▼76796K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,904 ▼334K 60,704 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cập nhật: 16/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17837 18111 18686
CAD 18161 18437 19052
CHF 31864 32245 32896
CNY 0 3839 3931
EUR 29467 29688 30763
GBP 34659 35052 35993
HKD 0 3218 3420
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15047 15632
SGD 19825 20107 20684
THB 698 761 814
USD (1,2) 25989 0 0
USD (5,10,20) 26030 0 0
USD (50,100) 26059 26073 26433
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,596 29,620 31,034
JPY 157.5 157.78 167.31
GBP 34,901 34,995 36,200
AUD 18,033 18,098 18,779
CAD 18,344 18,403 19,080
CHF 32,168 32,268 33,214
SGD 19,954 20,016 20,803
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.34 17.04 18.55
THB 746.08 755.29 808.1
NZD 15,032 15,172 15,620
SEK - 2,691 2,785
DKK - 3,959 4,099
NOK - 2,671 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,801.44
TWD 736.06 - 891.07
SAR - 6,872.72 7,238.83
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26440
AUD 18034 18134 19056
CAD 18345 18445 19456
CHF 32118 32148 33734
CNY 3819.9 3844.9 3980.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29651 29681 31404
GBP 34984 35034 36794
HKD 0 3355 0
JPY 158.43 158.93 169.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15167 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19992 20122 20850
THB 0 727.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14600000 14600000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 18,061 18,161 19,268
EUR 29,453 29,553 31,211
CAD 18,288 18,388 19,695
SGD 20,071 20,221 20,780
JPY 158.89 160.39 165.93
GBP 34,932 35,082 36,139
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80