Bảo hiểm xã hội đã chi trên 45.444 tỷ đồng hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp

Mai Lâm
(TBTCO) - Thực hiện các chính sách hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp gặp khó khăn do Covid-19, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giảm đóng vào các quỹ bảo hiểm và chi hỗ trợ từ nguồn quỹ bảo hiểm thất nghiệp, với tổng kinh phí trên 45.444 tỷ đồng cho người lao động và người sử dụng lao động đảm bảo kịp thời, công khai, minh bạch, đúng đối tượng.
aa

Hơn 2 năm qua, tình hình sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như đời sống nhân dân chịu tác động và ảnh hưởng sâu sắc bởi dịch Covid-19. Trước tình hình này, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam luôn theo sát diễn biến thực tế, chủ động tham mưu, phối hợp với các bộ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ về BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) để tháo gỡ khó khăn cho người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ).

Bảo hiểm xã hội đã chi trên 45.444 tỷ đồng hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp
BHXH tỉnh Quảng Nam tiếp nhận hồ sơ thực hiện các chính sách hỗ trợ. Ảnh: BHXH Quảng Nam

Các chính sách hỗ trợ bao gồm: Nghị quyết số 42/NQ-CP và Nghị quyết số 154/NQ-CP năm 2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; Nghị quyết số 68/NQ-CP năm 2021 về một số chính sách hỗ trợ NLĐ và NSDLĐ gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; Nghị quyết số 116/NQ-CP năm 2021 của Chính phủ về hỗ trợ NLĐ và NSDLĐ bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ BHTN. Đặc biệt trong đó là gói hỗ trợ trên 30.000 tỷ đồng từ quỹ BHTN theo Nghị quyết số 116/NQ-CP, đây là gói hỗ trợ trực tiếp bằng tiền lớn nhất từ trước đến nay.

Trong năm 2020, 2021 và 5 tháng đầu năm 2022, để triển khai nhanh nhất, hiệu quả nhất các gói hỗ trợ nêu trên đến tận tay NLĐ, NSDLĐ, BHXH Việt Nam đã tập trung huy động mọi nguồn lực sẵn có, đẩy nhanh tiến độ giải ngân; phát huy lợi thế của hệ thống dữ liệu công nghệ thông tin và mã định danh của từng người tham gia, rút gọn tối đa các công đoạn, thủ tục và thời gian chi trả.

Kết quả, toàn ngành đã triển khai giảm đóng vào các quỹ BHXH và chi hỗ trợ từ nguồn quỹ BHTN, với tổng kinh phí trên 45.444 tỷ đồng cho NLĐ và NSDLĐ đảm bảo kịp thời, công khai, minh bạch, đúng đối tượng.

Cụ thể, đối với Nghị quyết số 42/NQ-CP và Nghị quyết số 154/NQ-CP của Chính phủ: BHXH Việt Nam đã tiếp nhận hồ sơ và giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đối với 1.847 đơn vị, doanh nghiệp (cho 192.503 lao động) với số tiền tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất là trên 786,8 tỷ đồng.

Đối với Nghị quyết số 68/NQ-CP: Tính đến ngày 15/5/2022, toàn ngành đã thực hiện điều chỉnh giảm mức đóng vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp cho trên 375,3 nghìn đơn vị, tương ứng gần 11,1 triệu lao động với số tiền khoảng 4.322 tỷ đồng; đã giải quyết cho 2.760 đơn vị (với 374.126 lao động) tạm dừng đóng quỹ hưu trí và tử tuất với số tiền 1.913 tỷ đồng.

Tính đến ngày 27/5/2022 đã tiếp nhận quyết định của các sở lao động - thương binh và xã hội và thực hiện chi trả kinh phí hỗ trợ đào tạo nâng cao bồi dưỡng kỹ năng để duy trì việc làm cho 5.038 NLĐ của 36 đơn vị tương ứng với số tiền là 23,5 tỷ đồng.

Đối với Nghị quyết số 116/NQ-CP của Chính phủ: Chỉ sau 5 ngày, BHXH Việt Nam đã hoàn thành việc thông báo điều chỉnh mức đóng vào quỹ BHTN cho 363,6 nghìn đơn vị sử dụng lao động, tương ứng 9,676 triệu lao động với số tiền khoảng 7.595 tỷ đồng. Tính đến hết ngày 31/12/2021 toàn ngành BHXH Việt Nam, BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân đã chi trả chế độ hỗ trợ từ nguồn kết dư quỹ BHTN cho gần 12,968 triệu lao động, với số tiền gần 30.804 tỷ đồng.

Với việc ngành BHXH Việt Nam chủ động triển khai kịp thời, hiệu quả các gói hỗ trợ cho NLĐ và doanh nghiệp từ nguồn quỹ BHXH, quỹ BHTN theo tinh thần các nghị quyết của Chính phủ đã khắc họa rõ nét vai trò trụ cột của chính sách BHXH, BHTN trong hệ thống các chính sách an sinh xã hội của đất nước, các chính sách này đã thực sự trở thành nhu cầu thiết yếu, điểm tựa an sinh trong cuộc sống của mỗi người dân.

Việc triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ về BHXH, BHTN đã góp phần đảm bảo an sinh xã hội, tháo gỡ khó khăn cho NLĐ, giúp doanh nghiệp có thêm điều kiện để phục hồi, duy trì hoạt động sản xuất, đẩy lùi dịch Covid-19, sớm ổn định kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân./.

Mai Lâm

Đọc thêm

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30