“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
aa

Phí bảo hiểm chưa phục hồi, “kho” đầu tư tạo “bệ đỡ”

Khảo sát các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ vào cuối tháng 9/2026 cho thấy, do AIA mới công bố báo cáo sơ bộ, chưa có dữ liệu quy mô danh mục đầu tư, trong khi MB Life, Manulife và Techcom Life chưa công bố báo cáo tài chính bán niên. Dù vậy, số liệu chi tiết từ 16/20 doanh nghiệp phần nào phác họa rõ nét bức tranh kinh doanh toàn thị trường.

Thị trường bảo hiểm nhân thọ vẫn đang từng bước tìm lại điểm cân bằng, với phí bảo hiểm gốc đạt 53.653 tỷ đồng, giảm 6,3% so với cùng kỳ. Hoạt động khai thác mới cũng đang dần thích ứng với trạng thái mới của thị trường.

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Nguồn: Báo cáo bán niên 2026 các doanh nghiệp. Đồ họa: Ánh Tuyết

Theo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tổng doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới trong 6 tháng 2026 đạt hơn 10.787 tỷ đồng, giảm 17,33% cùng kỳ. Trong đó, top 5 doanh nghiệp dẫn đầu gồm: Bảo Việt Nhân thọ với 21,37% thị phần; tiếp đến là AIA 10,14%; Daiichi 9,7%; Manulife 9,45%, Techcom Life 8,85%...

Tuy nhiên, bức tranh tài chính đã xuất hiện những tín hiệu khả quan, với hoạt động đầu tư tài chính trở thành “điểm tựa” đáng kể cho kết quả kinh doanh.

Chia sẻ với phóng viên, đại diện một doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cho biết, doanh thu phí khai thác mới tại một số doanh nghiệp vẫn giảm mạnh. Trong bối cảnh đó, nguồn tiền gửi và danh mục đầu tư được tích lũy qua nhiều năm đang trở thành nguồn lực quan trọng, giúp các doanh nghiệp duy trì kết quả kinh doanh và bù đắp phần nào áp lực từ hoạt động bảo hiểm cốt lõi.

Cũng theo vị này, thị trường cũng đang chuyển động theo hướng thích ứng với bối cảnh mới. Khi kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) thu hẹp và một số ngân hàng chuyển sang tự chủ kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm đang đẩy mạnh kênh số, mở rộng hợp tác với các nền tảng và đối tác công nghệ, qua đó, đa dạng hóa kênh phân phối và tìm kiếm dư địa tăng trưởng mới, dù mới chỉ ghi nhận kết quả bước đầu.

Xây nền tảng vững chắc, nâng cao năng lực sinh lời

Thông qua danh mục đầu tư đa dạng và linh hoạt, chúng tôi đảm bảo cơ cấu tài sản được phân bổ phù hợp với đặc tính của các sản phẩm bảo hiểm của công ty. Hiệu quả đầu tư hiện nay đã phát huy vai trò trong việc tối ưu hóa cơ cấu tài chính, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho năng lực sinh lời của công ty trong tương lai.

Bà Lo, Mei-Fang - Tổng giám đốc Fubon Life Việt Nam

Quả thực, điểm sáng đáng chú ý của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nửa đầu năm nằm ở hoạt động đầu tư tài chính. Đến cuối tháng 6/2026, tổng các khoản đầu tư của nhóm khảo sát đạt hơn 687.046 tỷ đồng, tăng 6,1% so với cuối năm 2025. Trong đó, đầu tư dài hạn đạt hơn 561.069 tỷ đồng, chiếm 81,7% tổng danh mục và tăng 12,1%; đầu tư ngắn hạn giảm 14,3%, còn gần 125.977 tỷ đồng, chiếm 18,3%.

Dù doanh thu phí bảo hiểm gốc chưa trở lại quỹ đạo tăng trưởng, danh mục đầu tư vẫn mở rộng tích cực, bởi nguồn vốn đầu tư không chỉ đến từ phí thu trong kỳ, mà còn từ nguồn tích lũy qua nhiều năm, dòng tiền của các hợp đồng hiện hữu và lợi nhuận được tái đầu tư.

Đây cũng là lợi thế đặc thù của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ với hợp đồng kéo dài nhiều năm, tạo nguồn vốn dài hạn, vừa được đầu tư trở lại nền kinh tế, vừa tạo nguồn thu ổn định cho doanh nghiệp.

Lợi nhuận tài chính khởi sắc, linh hoạt danh mục đón cơ hội mới

Hiệu quả đầu tư thể hiện rõ khi lợi nhuận gộp từ hoạt động tài chính tăng 24,7% trong 6 tháng đầu năm, trong khi lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm giảm gần 20%, góp phần đưa lợi nhuận trước thuế của nhóm doanh nghiệp khảo sát tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ.

Đi sâu vào nhóm doanh nghiệp có lợi nhuận gộp từ hoạt động tài chính cao nhất nhóm khảo sát, có thể thấy hiệu quả tài chính cải thiện song hành với xu hướng mở rộng hoặc cơ cấu lại danh mục đầu tư theo hướng dài hạn.

Theo đó, Prudential nổi bật khi lợi nhuận gộp từ hoạt động tài chính đạt 5.696,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 46,2% so với cùng kỳ.

Bảo Việt Nhân thọ có quy mô danh mục đầu tư lớn nhất trong nhóm, đạt hơn 273.624 tỷ đồng, tăng 9% so với cuối năm 2025. Lợi nhuận gộp từ hoạt động tài chính đạt 5.584,9 tỷ đồng, tăng 19,5% so với cùng kỳ.

Daiichi Life cũng nổi bật về quy mô, khi lợi nhuận gộp từ hoạt động tài chính đạt 1.819,6 tỷ đồng, chỉ sau Prudential và Bảo Việt Nhân thọ. Tổng danh mục đầu tư đạt hơn 71.418 tỷ đồng, tăng 12,5%.

Ở nhóm tăng mạnh, lợi nhuận gộp từ hoạt động tài chính của Phú Hưng Life tăng 46,4%; Prudential tăng 46,2%; Sun Life tăng 41,1%; Hanwha Life tăng 28,1%...

Ông Đặng Nguyễn Trường Tài - Giám đốc đầu tư Công ty TNHH MTV Quản lý Quỹ Daiichi Life Việt Nam (DFVN) cho biết, công ty duy trì sự linh hoạt cần thiết trong quá trình triển khai đầu tư, nhằm nắm bắt những cơ hội xuất hiện ở từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế và thị trường tài chính.

“Việc nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam không chỉ góp phần thu hút thêm dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước, mà còn thúc đẩy tính minh bạch, thanh khoản và chất lượng của thị trường vốn. Đây là những yếu tố quan trọng giúp mở rộng cơ hội đầu tư đối với các nhà đầu tư tổ chức như doanh nghiệp bảo hiểm” - ông Tài nhấn mạnh.

Tương tự, bà Ant Lo (Lo, Mei-Fang) - Tổng giám đốc Fubon Life Việt Nam cũng nhấn mạnh, chiến lược đầu tư của Fubon Life Việt Nam luôn lấy việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng và duy trì nền tảng tài chính vững mạnh làm nguyên tắc cao nhất.

“Đội ngũ đầu tư của Fubon Life duy trì mức độ linh hoạt cao, chủ động điều chỉnh cơ cấu phân bổ tài sản theo diễn biến thị trường, qua đó, trên nền tảng quản trị rủi ro nghiêm ngặt, tạo ra nguồn thu đầu tư ổn định cho công ty” - lãnh đạo Fubon Life nêu rõ.

Bên trong “giỏ” đầu tư của các “ông lớn” bảo hiểm

Ở nhóm dẫn đầu thị trường, Bảo Việt Nhân thọ và Prudential tiếp tục so kè về quy mô đầu tư tài chính.

Tại Bảo Việt Nhân thọ, sự dịch chuyển sang đầu tư dài hạn diễn ra khá rõ nét. Đến cuối tháng 6/2026, đầu tư dài hạn đạt 252.675 tỷ đồng, tăng 21,9% so với cuối năm 2025 và chiếm hơn 92% tổng danh mục. Trong đó, hơn 220.154 tỷ đồng được đầu tư ủy thác tại Công ty TNHH Quản lý Quỹ Bảo Việt (BVF), tương đương gần 87% danh mục dài hạn. Trong khoản ủy thác này, trái phiếu đạt gần 112.600 tỷ đồng và tiền gửi có kỳ hạn hơn 104.765 tỷ đồng, chiếm phần lớn quy mô.

Ngoài danh mục đầu tư ủy thác, Bảo Việt Nhân thọ còn có “giỏ” đầu tư đa dạng nhiều loại tài sản khác như: góp vốn vào các doanh nghiệp, công ty liên doanh, liên kết, trái phiếu, chứng chỉ quỹ...

Thông tin từ Prudential cho thấy, doanh nghiệp tiếp tục duy trì chiến lược đầu tư thận trọng, kỷ luật, ưu tiên tài sản an toàn và ổn định, đến cuối tháng 6 năm 2026, đầu tư vào trái phiếu của Prudential Việt Nam đạt 92.281 tỷ đồng, trong đó 81,5% - tương đương 75.182 tỷ đồng, là trái phiếu chính phủ và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, tạo nền tảng cho các cam kết bảo vệ dài hạn.

Tại Prudential, danh mục đầu tư tiếp tục nghiêng mạnh về dài hạn. Đến cuối tháng 6/2026, tổng danh mục đầu tư đạt hơn 182.222 tỷ đồng, gần như đi ngang so với cuối năm 2025. Trong đó, đầu tư dài hạn chiếm 77,1% tổng danh mục.

Theo quan sát của ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam, các doanh nghiệp nhân thọ đa dạng hóa danh mục đầu tư, để vừa đảm bảo an toàn, vừa cải thiện hiệu quả đầu tư.

“Dòng sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đơn vị đang thịnh hành tại rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ như: Manulife, Daiichi Life, Prudential...” - ông Thắng nêu rõ. Vì vậy, các doanh nghiệp gia tăng đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ..., để có thể mang lại mức lãi suất hấp dẫn cho khách hàng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

(TBTCO) - Sáng 25/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng, lên 25.641 đồng, trong khi USD trên thị trường tự do và ngân hàng diễn biến phân hóa. Chỉ số DXY nhích 0,13% lên 101,25 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ khi kỳ vọng Fed nâng lãi suất gia tăng, trong bối cảnh quan chức Fed phát tín hiệu cứng rắn và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng mạnh.
PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank chốt ngày 7/10/2026 để cổ đông thực hiện quyền mua 150 triệu cổ phiếu đợt 1 với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, với tỷ lệ 20,472%. Đây là bước đầu trong kế hoạch phát hành hơn 267 triệu cổ phiếu, qua đó, đưa vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng, hiện thực hóa mục tiêu ngân hàng theo đuổi nhiều năm.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

(TBTCO) - Tháng 9/2026 tại New York (Mỹ), trong Global Strategy Summit 2026, Hội nghị đối thoại chiến lược dành cho các nhà lãnh đạo do McKinsey & Company tổ chức, Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy đã chia sẻ những góc nhìn về những vấn đề đang đặt ra với nhiều doanh nghiệp trên thế giới: tăng trưởng bền vững trước áp lực ngắn hạn, nhận diện xu hướng nhưng không chạy và chuẩn bị con người trước những thay đổi mà AI tạo ra.
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17706 17980 18556
CAD 17829 18103 18719
CHF 30675 31051 31692
CNY 0 3827 3923
EUR 28946 29165 30243
GBP 33554 33942 34875
HKD 0 3182 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14407 14989
SGD 19781 20062 20629
THB 693 756 810
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 17871 17971 18896
CAD 18010 18110 19124
CHF 30921 30951 32537
CNY 3809.4 3834.4 3969.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29084 29114 30837
GBP 33814 33864 35635
HKD 0 3315 0
JPY 160.54 161.04 171.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14483 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19925 20055 20778
THB 0 721.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30