EU bất đồng về cách giải cứu ngân hàng

M.H (Theo Financial Times)
Sau một ngày họp với nhiều tranh luận qua lại, các Bộ trưởng Tài chính EU đã không thể tiến tới một thỏa thuận nào để tháo gỡ khó khăn cho các ngân hàng trong khu vực, bởi còn quá nhiều ý kiến khác nhau...
aa

Vấn đề lớn nhất hiện nay là các nước đang yêu cầu ban hành những quy định chung nhưng phải phù hợp với hệ thống tài chính riêng biệt của họ. Ảnh: T.L

Điều này đồng nghĩa với việc các Bộ trưởng tài chính sẽ phải triệu tập một cuộc họp khác vào tuần này để quyết định số phận của liên minh các ngân hàng

Cuộc đàm phán đã thất bại sau khi các nước thuộc khu vực đồng tiền chung và cả các quốc gia châu Âu khác đưa ra nhiều ý kiến trái chiều về chính sách, chẳng hạn yêu cầu các chủ nhà băng và nhà đầu tư chung tay giảm bớt gánh nặng cho người nộp thuế trong tương lai.

Ông Michael Noonan, Bộ trưởng Tài chính Ireland kiêm Chủ tịch luân phiên Liên minh châu Âu cho biết, nếu đây chỉ là vấn đề phụ thì cuộc họp chỉ qua một đêm là có thể giải quyết xong. “Tuy nhiên, có những nút thắt chưa thể tháo gỡ được”.

Các nhà ngoại giao và quan chức tham gia cuộc nhóm họp cho hay, vấn đề lớn nhất hiện nay là các nước đang yêu cầu ban hành những quy định chung, nhưng phải phù hợp với hệ thống tài chính riêng biệt của họ.

Trong khi đó, một nhóm các nước do Đức dẫn đầu cho rằng thay vì hỗ trợ tiền mặt cho các tổ chức tín dụng để tự nổi (bail-out), ban điều hành của Liên minh EU nên đưa ra một cơ chế linh hoạt có giới hạn nhất định (bail-in), hạn chế quyền của các chính phủ trong việc lựa chọn loại nợ nào được cứu trợ.

Nhưng nhiều nước khác, trong đó có Pháp và các nước không thuộc Liên minh, kêu gọi những chính sách linh hoạt hơn để ứng phó với từng diễn biến cụ thể. Theo lời các nhà ngoại giao, mặc dù nhiều cuộc thảo luận song phương đã diễn ra suốt đêm thứ bảy, Pháp vẫn không đồng ý với đề nghị thắt chặt của Đức.

Theo tiết lộ của tờ Financial Times, ông Noonan đề xuất một số khoản viện trợ bail-in tối thiếu cần có trong các cuộc cải cách ngân hàng lên tới 8% tổng số nợ. Điều này tạo một khoảng tự do nhất định cho các nước nhưng chỉ trong những “trường hợp đặc biệt” và “tuân theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt”.

Sau đó, nhiều quan chức cho biết bản đề xuất dài 3 trang của ông Noonan càng trở nên mơ hồ sau khi ngài chủ tịch luân phiên cố gắng sửa đổi liên tục trong cuộc họp. Các cuộc đàm phán sẽ được nối lại vào thứ tư tuần này.

Trong một tuyên bố đưa ra sau khi các cuộc đàm phán kết thúc lúc 3 giờ sáng, ủy viên tài chính cấp cao của Liên minh EU nói rằng, ông hiểu mong muốn của nhiều bộ trưởng muốn giữ quyền kiểm soát các gói cứu trợ dành cho các ngân hàng của họ, nhưng nếu quá linh hoạt sẽ tạo ra một hệ thống bất cân xứng, nơi các nước giàu có thể sử dụng tiền công quỹ để thực hiện giải cứu trong khi các nước nhỏ hơn có thể sẽ tái diễn tình cảnh của cộng hòa Síp, buộc các ngân hàng và người gửi tiền chấp nhận thua lỗ.

Ông Barnier nói: “Chúng ta vẫn cần một hệ thống phân cấp rõ ràng cho các gói bail-in nếu muốn tạo ra một cơ chế thoáng, vì còn một mục tiêu cốt yếu khác là tránh sự mất cân bằng theo kiểu nước thì nhận gói bail-out nước thì nhận gói bail-in.”

Nhu cầu về tính linh động trong các gói cứu trợ đặc biệt mãnh liệt từ các nước ngoài khu vực đồng tiền chung như Thụy Điển, Anh và Đan Mạch. Các quốc gia này đều lập luận rằng họ luôn bị chậm trễ khi nhận ứng cứu.

Bộ trưởng Tài chính Thụy Điển Anders Borg quả quyết rằng, sẽ rất nguy hiểm nếu buộc các nước ngoài khu vực tuân thủ các nguyên tắc giống như các nước trong khu vực, bởi ngân hàng ở các nước này không được tiếp cận thanh khoản với Ngân hàng Trung ương châu Âu cũng như quỹ cứu trợ tài chính trị giá 500 tỷ euro của khu vực.

Trước những lý luận này, các quan chức cho biết cuộc hội đàm đã tập trung vào việc cung cấp nhiều lựa chọn hơn cho các nước ngoài khu vực đồng tiền chung khi gặp khủng hoảng.

Bộ trưởng Tài chính Đan Mạch Margrethe Vestager bày tỏ: "do những khác biệt phức tạp giữa nền tài chính các nước, cần nhiều thời gian để đi đến thống nhất".

Trong khi đó, Bộ trưởng Tài chính Pháp Pierre Moscovici tin tưởng, những khác biệt này đã được thu hẹp đủ để đạt được thỏa thuận chung.

Tuy nhiên, ông Noonan lo ngại cuộc họp tiếp theo có thể không thành công khi các quy tắc bail-in chỉ phụ thuộc vào một cơ quan cứu trợ duy nhất./.

M.H (Theo Financial Times)

M.H (Theo Financial Times)

Đọc thêm

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

(TBTCO) - Ngày 22/9/2026, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện, mở ra cơ hội kết nối sâu rộng giữa 2 bên trong việc triển khai các giải pháp tài chính – ngân hàng vượt trội phục vụ nhu cầu phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

Mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội, không để lao động nền tảng đứng ngoài an sinh

(TBTCO) - Khoảng 2 triệu người tại Việt Nam đang có việc làm thông qua các nền tảng số, nhưng chỉ khoảng 1/5 lao động được khảo sát tham gia bảo hiểm xã hội. Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách theo hướng linh hoạt, phù hợp hơn với đặc điểm việc làm và thu nhập của lao động nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

VietinBank hợp tác Finviet xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Ngày 21/9/2026, VietinBank và Finviet đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược (MOU - Memorandum of Understanding) nhằm xây dựng hệ sinh thái tài chính số dành cho hộ kinh doanh tại Việt Nam.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Hà Nội - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đà Nẵng - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Miền Tây - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Tây Nguyên - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Nghệ An 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Thái Bình 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 ▼110K 14,400 ▼110K
Trang sức 99.99 13,810 ▼110K 14,410 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 ▼11K 14,442 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 ▼11K 14,443 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 ▲1267K 1,439 ▲1294K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 ▲1267K 144 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 ▼11K 1,429 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 ▼1089K 141,485 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 ▼825K 107,336 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 ▲78704K 97,332 ▲87524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 ▼671K 87,328 ▼671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 ▲66238K 83,469 ▲75058K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 ▼459K 59,745 ▼459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cập nhật: 24/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18044 18618
CAD 17896 18171 18785
CHF 30781 31158 31801
CNY 0 3830 3926
EUR 28983 29202 30282
GBP 33630 34018 34957
HKD 0 3183 3386
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14462 15045
SGD 19780 20062 20630
THB 694 757 810
USD (1,2) 25729 0 0
USD (5,10,20) 25768 0 0
USD (50,100) 25796 25810 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,026 29,049 30,427
JPY 159.64 159.93 169.61
GBP 33,816 33,908 35,082
AUD 17,958 18,023 18,706
CAD 18,087 18,145 18,815
CHF 31,197 31,294 32,216
SGD 19,900 19,962 20,744
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.51 18.26 19.88
THB 741.95 751.11 804.23
NZD 14,445 14,579 15,012
SEK - 2,580 2,671
DKK - 3,893 4,031
NOK - 2,696 2,792
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,957.79 - 6,724.66
TWD 737.34 - 892.76
SAR - 6,805.45 7,168.62
KWD - 82,209 87,477
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,042 29,159 30,368
GBP 33,798 33,934 34,953
HKD 3,249 3,262 3,379
CHF 30,994 31,118 32,057
JPY 160.62 161.27 169.23
AUD 17,952 18,024 18,616
SGD 19,963 20,043 20,633
THB 758 761 799
CAD 18,106 18,179 18,769
NZD 14,522 15,063
KRW 18.15 20.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 17929 18029 18952
CAD 18077 18177 19191
CHF 31112 31142 32742
CNY 3811.5 3836.5 3971.5
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29133 29163 30888
GBP 33912 33962 35715
HKD 0 3315 0
JPY 161.13 161.63 172.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14539 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19924 20054 20775
THB 0 722.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,705 25,825 26,500
USD20 25,675 25,825 26,500
USD1 25,655 25,825 26,500
AUD 17,969 18,069 19,175
EUR 28,922 29,022 30,682
CAD 18,026 18,126 19,434
SGD 20,002 20,152 20,710
JPY 161.41 162.91 168.48
GBP 33,802 33,952 35,295
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 758 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/09/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30