Triển khai hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp:

Hơn 8,3 triệu người lao động đã được hỗ trợ

Hà My
(TBTCO) - Với tinh thần khẩn trương, quyết liệt nhất, sau một tháng triển khai chính sách hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội đã thực hiện chi trả cho hơn 8,34 triệu người lao động, với tổng số tiền 19.832 tỷ đồng.
aa

Rút ngắn một nửa thời gian giải quyết hỗ trợ

Chính sách hỗ trợ người lao động (NLĐ) và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi Covid-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) theo Nghị quyết 116/NQ-CP chính thức có hiệu lực vào ngày 1/10 theo Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg. Ngay trong ngày 1/10, Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam đã ban hành hướng dẫn quy trình thực hiện, thời hạn và trách nhiệm của từng bộ phận nghiệp vụ thuộc cơ quan BHXH, từ khâu rà soát, gửi danh sách cho đơn vị sử dụng lao động cho đến khâu chi trả hỗ trợ đến NLĐ, cũng như quy trình thực hiện giảm đóng vào Quỹ BHTN cho các doanh nghiệp. Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ngay trong ngày đầu triển khai chính sách đã yêu cầu BHXH các địa phương triển khai quyết liệt gói hỗ trợ này đảm bảo nhanh nhất và hoàn thành sớm nhất, hiệu quả, đúng người thụ hưởng. Đặc biệt phải lưu ý phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ kết quả triển khai thực hiện, phấn đấu đến ngày 5/10 hoàn thành chính sách hỗ trợ giảm mức đóng từ 1% xuống 0% cho khoảng 386.000 đơn vị sử dụng lao động; trong tháng 10/2021, cơ bản hoàn thành việc hỗ trợ cho NLĐ có tài khoản ngân hàng tại các doanh nghiệp.

Hơn 8,3 triệu người lao động đã được hỗ trợ
Bảo hiểm Xã hội TP.Hồ Chí Minh tư vấn cho người lao động về các chính sách hỗ trợ.

Ngoài ra, nhằm kịp thời chỉ đạo thông suốt gói hỗ trợ trong toàn ngành, BHXH Việt Nam đã thành lập Tổ công tác đặc biệt về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Tổ công tác có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện chi trả trợ cấp của BHXH tỉnh, thành phố, đồng thời chủ động nắm bắt khó khăn, vướng mắc phát sinh trong triển khai để có giải pháp kịp thời, tránh sai sót, nhầm lẫn trong quá trình thực hiện, cảnh báo lạm dụng, trục lợi chính sách… Trên tinh thần đó, toàn ngành BHXH Việt Nam đã vào cuộc quyết liệt triển khai chính sách, bố trí làm thêm giờ, kể cả làm vào thứ Bảy và Chủ nhật, với quyết tâm đưa chính sách hỗ trợ đến với NLĐ và doanh nghiệp một cách nhanh chóng, hiệu quả.

Đáng chú ý, BHXH Việt Nam đã rút ngắn thời hạn thực hiện xuống còn 1/2 thời gian so với quy định đề ra tại Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg. Cụ thể, giảm thời hạn giải quyết hồ sơ xuống còn 5 ngày đối với trường hợp có thông tin đúng, đủ và xuống còn 10 ngày làm việc đối với trường hợp có điều chỉnh thông tin hưởng hỗ trợ.

Tiến độ giải quyết hỗ trợ ngày càng được đẩy nhanh hơn

Thống kê của BHXH Việt Nam cho biết, về việc giảm mức đóng BHTN từ 1% về mức 0% cho các doanh nghiệp, chỉ tính đến ngày 6/10, BHXH Việt Nam đã cơ bản hoàn thành việc xác định số giảm đóng cho 363,6 nghìn đơn vị, tương ứng 9,68 triệu người lao động và số tiền tạm tính được điều chỉnh giảm đóng (từ tháng 10/2021 đến tháng 9/2022) khoảng 7.595 tỷ đồng.

Với NLĐ, trong thời gian đầu thực hiện, cơ quan BHXH chủ yếu thực hiện việc gửi danh sách NLĐ đang tham gia BHTN về cho doanh nghiệp để rà soát, cập nhật thông tin. Tuy khối lượng công việc rất lớn, nhưng chỉ sau 5 ngày, BHXH các tỉnh, thành phố đã hoàn thành việc rà soát và gửi danh sách NLĐ đến trên 348.000 đơn vị sử dụng lao động (đạt 99% số đơn vị thuộc diện rà soát) - tương ứng với thông tin của hơn 10 triệu lao động (đạt 99% số lao động đang tham gia BHTN thuộc diện hưởng hỗ trợ). Sau khi nhiều doanh nghiệp gửi lại danh sách NLĐ đã được rà soát, quy trình giải quyết hồ sơ của cơ quan BHXH cũng dần nhịp nhàng, đi vào nền nếp và ổn định hơn. Do đó, tiến độ giải quyết hỗ trợ NLĐ ngày càng được đẩy nhanh hơn.

Theo tổng hợp của Ban Thực hiện chính sách BHXH (BHXH Việt Nam), tính đến ngày 1/11, BHXH các tỉnh, thành phố đã giải quyết hưởng hỗ trợ cho 7,79 triệu NLĐ đang tham gia BHTN và 0,55 triệu người đang có thời gian bảo lưu đóng BHTN. Như vậy, sau một tháng triển khai, đã có 8,34 triệu NLĐ được hưởng hỗ trợ từ Quỹ BHTN, với tổng số tiền 19.832 tỷ đồng.

Về cơ bản, BHXH các tỉnh, thành phố đã hoàn thành rà soát và gửi danh sách NLĐ thuộc diện nhận hỗ trợ tới 353.623 đơn vị sử dụng lao động, tương ứng với 10.487.493 lao động; số còn lại đang rà soát để gửi danh sách là các đơn vị sự nghiệp thuộc diện được hỗ trợ. Trong số đó có 269.989 đơn vị đã gửi danh sách xác nhận hưởng hỗ trợ cho hơn 8,6 triệu lao động đang tham gia BHTN.

Ban Thực hiện chính sách BHXH cho biết, với tiến độ như hiện nay, thời gian tới, số lượng NLĐ nhận hỗ trợ từ Quỹ BHTN chắc chắn sẽ tiếp tục tăng nhanh, nhất là khi các doanh nghiệp quy mô lớn hoàn thành việc rà soát, bổ sung thông tin của NLĐ nhận hỗ trợ. Do đó, BHXH các tỉnh, thành phố đang đẩy mạnh công tác truyền thông, nhất là với những NLĐ đã dừng tham gia BHTN, để họ được tiếp cận thông tin và làm thủ tục hưởng chính sách hỗ trợ được kịp thời.

Các tỉnh, thành phố có tỷ lệ đơn vị sử dụng lao động gửi danh sách người lao động đủ thông tin nhận hỗ trợ tới cơ quan bảo hiểm xã hội cao nhất: Quảng Bình (99%), Hậu Giang, Cà Mau, Phú Thọ (98%), An Giang (97%), Kon Tum (96%), Quảng Trị, Phú Yên (95%), Đồng Tháp (94%), Bắc Kạn (93%). Các tỉnh, thành phố có tỷ lệ người lao động được giải quyết cao như: Cao Bằng, Lào Cai, Thái Bình, Đắk Lắk (100%), Hậu Giang, TP. Hồ Chí Minh, Hải Dương, Điện Biên, Quảng Bình, Bắc Kạn (99%).
Hà My

Đọc thêm

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲480K 17,510 ▲480K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Nguyên Liệu 99.99 16,500 ▲700K 16,700 ▲700K
Nguyên Liệu 99.9 16,450 ▲700K 16,650 ▲700K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 17,050 ▲650K 17,450 ▲650K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 17,000 ▲650K 17,400 ▲650K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,930 ▲650K 17,380 ▲650K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,170 ▲700K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,200 ▲700K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17837 18111 18684
CAD 18591 18868 19486
CHF 32716 33101 33737
CNY 0 3470 3830
EUR 29923 30196 31226
GBP 34468 34860 35789
HKD 0 3238 3439
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15007 15589
SGD 20050 20333 20860
THB 720 783 837
USD (1,2) 26086 0 0
USD (5,10,20) 26128 0 0
USD (50,100) 26156 26176 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26359
AUD 18017 18117 19045
CAD 18773 18873 19884
CHF 32956 32986 34573
CNY 3761 3786 3921.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30099 30129 31854
GBP 34763 34813 35952
HKD 0 3355 0
JPY 162.26 162.76 173.27
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15113 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20204 20334 21065
THB 0 749.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,359
USD20 26,155 26,205 26,359
USD1 23,849 26,205 26,359
AUD 18,099 18,199 19,330
EUR 30,290 30,290 31,732
CAD 18,732 18,832 20,158
SGD 20,305 20,455 21,453
JPY 162.88 164.38 169.1
GBP 34,739 35,089 36,003
XAU 16,718,000 0 17,022,000
CNY 0 3,669 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80