Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Ánh Tuyết
Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
aa
Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Dòng tiền lớn “gánh” áp lực tín dụng, dư địa tăng NIM

Trong báo cáo "Triển vọng ngành ngân hàng - Thuận lợi và thách thức trong năm 2026" mới phát hành, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận thấy, sau giai đoạn tập trung vào phục hồi kinh tế hậu đại dịch, với nhiều chính sách hỗ trợ được triển khai liên tục, ngành ngân hàng bước vào năm 2026 với cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt hơn hẳn.

Về mặt thuận lợi, theo VDSC, bối cảnh vĩ mô với mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng ở mức 10% và dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hạn chế, đồng nghĩa với việc động lực tăng trưởng được chuyển trọng tâm sang chính sách tài khóa và thị trường vốn đóng vai trò quan trọng hơn trong việc huy động và phân bổ vốn đầu tư dài hạn.

Cùng với đó, làn sóng đầu tư công mạnh mẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định cho hoạt động ngân hàng liên quan đến vấn đề thanh khoản. Theo đó, cho năm 2026, chi đầu tư phát triển dự toán đạt trên 1,1 triệu tỷ đồng, tăng hơn 40% cùng kỳ; bội chi ngân sách dự toán hơn 600.000 tỷ đồng, tăng gần 30% cùng kỳ và tương ứng 4,2% GDP, cao hơn mức 3,6% của năm 2025.

"Như vậy, dòng tiền lớn sẽ được bơm vào nền kinh tế và bồi đắp trực tiếp vào nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng, từ đó, tạo áp lực giảm lên mặt bằng lãi suất liên ngân hàng. Đây là cơ chế truyền dẫn tích cực từ tài khóa sang tiền tệ, giúp bù đắp phần nào cho dư địa chính sách tiền tệ đang bị thu hẹp trong năm nay" - chuyên gia VDSC đánh giá.

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng. Ảnh minh họa.

Một điểm sáng đáng chú ý được nhóm phân tích VDSC kỳ vọng trong năm 2026 là dư địa cải thiện biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng.

Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích VDSC phân tích, dư địa mở rộng NIM trong ngắn hạn được thúc đẩy bởi quá trình định giá lại lãi suất của các khoản vay. Đặc biệt trong 3 tháng đầu năm 2026, quy mô dư nợ được điều chỉnh lên mức lãi suất cao hơn vượt trội so với quy mô nguồn vốn huy động được điều chỉnh trong cùng kỳ. Việc điều chỉnh này chủ yếu bám theo biến động của lãi suất cơ sở, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 - 6 tháng đối với khoản vay ngắn hạn và từ 12 tháng trở lên đối với khoản vay trung, dài hạn.

Thanh khoản căng, nợ xấu rình rập

Về những trở ngại, thách thức về cấu trúc cho năm 2026, chuyên gia VDSC cho rằng, dù có nhiều yếu tố hỗ trợ, ngành ngân hàng năm 2026 cũng đứng trước không ít thách thức đáng kể.

Theo đó, dư địa chính sách tiền tệ đã bị thu hẹp sau nhiều năm triển khai các gói hỗ trợ phục hồi kinh tế, trong khi áp lực lạm phát từ bên ngoài do rủi ro thương mại và địa chính trị toàn cầu vẫn còn rất phức tạp.

Điều này được thể hiện rõ qua quan điểm thận trọng của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách, bao gồm việc giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng mục tiêu ngay từ đầu năm xuống 15%, so với 16% đầu năm 2025 và mức tăng trưởng thực tế 19% của năm 2025.

Đồng thời, nhà điều hành kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo từng quý và siết chặt dòng vốn chảy vào lĩnh vực bất động sản, khi khống chế tăng trưởng tối đa bằng hạn mức tăng trưởng tín dụng chung của ngân hàng.

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Tăng trưởng tín dụng cũng chịu sức ép giảm tốc từ hai yếu tố cấu trúc. Một mặt, động lực tăng trưởng truyền thống đến từ bất động sản bị Ngân hàng Nhà nước kiềm chế thông qua các biện pháp kiểm soát dòng vốn nói trên, làm mất đi một đầu kéo quan trọng của tổng dư nợ toàn hệ thống.

Mặt khác, lãi suất cho vay đã tăng khá mạnh trong thời gian gần đây, khiến nhu cầu tín dụng tiêu dùng và đầu tư cá nhân bị trì hoãn. Nhiều khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ chọn cách chờ đợi thay vì vay vốn khi chi phí lãi vay còn ở mức cao.

Kiểm soát thanh khoản là thách thức lớn

"Thách thức trực tiếp và rõ ràng nhất trong ngắn hạn đối với các ngân hàng là bài toán kiểm soát thanh khoản. Mặc dù lãi suất huy động đã tăng mạnh ở nhiều ngân hàng ngày từ những tháng đầu năm, từ 100 - 300 điểm cơ bản ở các kỳ hạn từ 6 tháng đến trung hạn, huy động vốn chỉ tăng 0,8% trong khi tín dụng đã tăng 1,4% trong 02 tháng đầu năm 2026, khoảng cách chênh lệch giữa cung - cầu vốn vẫn còn tồn tại".

Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích VDSC.

"Trong bối cảnh thách thức này, chúng tôi dự phóng tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngành ngân hàng sẽ giảm tốc trong năm 2026, với dự báo tổng tăng trưởng tín dụng của danh mục các ngân hàng mà chúng tôi theo dõi giảm xuống 17%, từ mức 20% của năm 2025" - nhóm phân tích VDSC nhìn nhận.

Để thu hẹp khoảng cách tăng trưởng tín dụng - huy động, VDSC cho rằng, lãi suất huy động nhiều khả năng tiếp tục tăng trong ngắn hạn trước khi tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) được kiểm soát tốt hơn và giúp lãi suất tìm được điểm cân bằng.

Không chỉ tái kiểm soát tỷ lệ LDR, các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần, cũng sẽ phải kiểm soát tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, vốn có xu hướng tăng trong năm 2025.

Các ngân hàng có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cao (từ 25% trở lên) sẽ có nhu cầu huy động trung dài hạn lớn, kéo theo hệ quả là tỷ lệ CASA giảm và triệt tiêu dư địa cải thiện NIM.

Một thách thức lớn thứ ba của ngành ngân hàng là nguy cơ nợ xấu gia tăng trở lại khi lãi suất có biến động mạnh.

"Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng - thường là mức lãi suất tham chiếu cho các khoản vay trong giai đoạn thả nổi - đã tăng mạnh từ 100 đến 200 điểm cơ bản chỉ trong hơn một quý vừa qua. Tốc độ tăng này không phải là chưa có tiền lệ, nhưng hệ quả của nó thì đã được lịch sử kiểm chứng" - chuyên gia VDSC chỉ rõ.

Nhìn lại hai chu kỳ nợ xấu trước đây, giai đoạn 2010 - 2012, khi lãi suất tăng vọt dẫn đến làn sóng nợ xấu buộc phải thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Cùng với đó, giai đoạn 2022 - 2023 khi xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ toàn cầu và khủng hoảng trái phiếu doanh nghiệp đẩy nợ xấu toàn ngành lên cao.

Nhóm phân tích VDSC nhận thấy, có thể mức tăng lãi suất hiện tại hoàn toàn có khả năng ảnh hưởng tới khả năng trả nợ trong kế hoạch và kích hoạt một chu kỳ nợ xấu mới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 16,550
Kim TT/AVPL 16,250 16,550
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 16,550
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 165,500
Hà Nội - PNJ 162,500 165,500
Đà Nẵng - PNJ 162,500 165,500
Miền Tây - PNJ 162,500 165,500
Tây Nguyên - PNJ 162,500 165,500
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 165,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 16,550
Miếng SJC Nghệ An 16,250 16,550
Miếng SJC Thái Bình 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,100
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 16,552
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 16,553
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 1,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 1,654
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 1,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 162,178
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 123,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 111,545
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 100,078
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 95,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 68,461
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Cập nhật: 13/05/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80