| Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến |
Dòng tiền lớn “gánh” áp lực tín dụng, dư địa tăng NIM
Trong báo cáo "Triển vọng ngành ngân hàng - Thuận lợi và thách thức trong năm 2026" mới phát hành, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận thấy, sau giai đoạn tập trung vào phục hồi kinh tế hậu đại dịch, với nhiều chính sách hỗ trợ được triển khai liên tục, ngành ngân hàng bước vào năm 2026 với cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt hơn hẳn.
Về mặt thuận lợi, theo VDSC, bối cảnh vĩ mô với mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng ở mức 10% và dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hạn chế, đồng nghĩa với việc động lực tăng trưởng được chuyển trọng tâm sang chính sách tài khóa và thị trường vốn đóng vai trò quan trọng hơn trong việc huy động và phân bổ vốn đầu tư dài hạn.
Cùng với đó, làn sóng đầu tư công mạnh mẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định cho hoạt động ngân hàng liên quan đến vấn đề thanh khoản. Theo đó, cho năm 2026, chi đầu tư phát triển dự toán đạt trên 1,1 triệu tỷ đồng, tăng hơn 40% cùng kỳ; bội chi ngân sách dự toán hơn 600.000 tỷ đồng, tăng gần 30% cùng kỳ và tương ứng 4,2% GDP, cao hơn mức 3,6% của năm 2025.
"Như vậy, dòng tiền lớn sẽ được bơm vào nền kinh tế và bồi đắp trực tiếp vào nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng, từ đó, tạo áp lực giảm lên mặt bằng lãi suất liên ngân hàng. Đây là cơ chế truyền dẫn tích cực từ tài khóa sang tiền tệ, giúp bù đắp phần nào cho dư địa chính sách tiền tệ đang bị thu hẹp trong năm nay" - chuyên gia VDSC đánh giá.
![]() |
| Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng. Ảnh minh họa. |
Một điểm sáng đáng chú ý được nhóm phân tích VDSC kỳ vọng trong năm 2026 là dư địa cải thiện biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng.
Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích VDSC phân tích, dư địa mở rộng NIM trong ngắn hạn được thúc đẩy bởi quá trình định giá lại lãi suất của các khoản vay. Đặc biệt trong 3 tháng đầu năm 2026, quy mô dư nợ được điều chỉnh lên mức lãi suất cao hơn vượt trội so với quy mô nguồn vốn huy động được điều chỉnh trong cùng kỳ. Việc điều chỉnh này chủ yếu bám theo biến động của lãi suất cơ sở, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 - 6 tháng đối với khoản vay ngắn hạn và từ 12 tháng trở lên đối với khoản vay trung, dài hạn.
Thanh khoản căng, nợ xấu rình rập
Về những trở ngại, thách thức về cấu trúc cho năm 2026, chuyên gia VDSC cho rằng, dù có nhiều yếu tố hỗ trợ, ngành ngân hàng năm 2026 cũng đứng trước không ít thách thức đáng kể.
Theo đó, dư địa chính sách tiền tệ đã bị thu hẹp sau nhiều năm triển khai các gói hỗ trợ phục hồi kinh tế, trong khi áp lực lạm phát từ bên ngoài do rủi ro thương mại và địa chính trị toàn cầu vẫn còn rất phức tạp.
Điều này được thể hiện rõ qua quan điểm thận trọng của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách, bao gồm việc giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng mục tiêu ngay từ đầu năm xuống 15%, so với 16% đầu năm 2025 và mức tăng trưởng thực tế 19% của năm 2025.
Đồng thời, nhà điều hành kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo từng quý và siết chặt dòng vốn chảy vào lĩnh vực bất động sản, khi khống chế tăng trưởng tối đa bằng hạn mức tăng trưởng tín dụng chung của ngân hàng.
![]() |
Tăng trưởng tín dụng cũng chịu sức ép giảm tốc từ hai yếu tố cấu trúc. Một mặt, động lực tăng trưởng truyền thống đến từ bất động sản bị Ngân hàng Nhà nước kiềm chế thông qua các biện pháp kiểm soát dòng vốn nói trên, làm mất đi một đầu kéo quan trọng của tổng dư nợ toàn hệ thống.
Mặt khác, lãi suất cho vay đã tăng khá mạnh trong thời gian gần đây, khiến nhu cầu tín dụng tiêu dùng và đầu tư cá nhân bị trì hoãn. Nhiều khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ chọn cách chờ đợi thay vì vay vốn khi chi phí lãi vay còn ở mức cao.
| Kiểm soát thanh khoản là thách thức lớn "Thách thức trực tiếp và rõ ràng nhất trong ngắn hạn đối với các ngân hàng là bài toán kiểm soát thanh khoản. Mặc dù lãi suất huy động đã tăng mạnh ở nhiều ngân hàng ngày từ những tháng đầu năm, từ 100 - 300 điểm cơ bản ở các kỳ hạn từ 6 tháng đến trung hạn, huy động vốn chỉ tăng 0,8% trong khi tín dụng đã tăng 1,4% trong 02 tháng đầu năm 2026, khoảng cách chênh lệch giữa cung - cầu vốn vẫn còn tồn tại". Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích VDSC. |
"Trong bối cảnh thách thức này, chúng tôi dự phóng tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngành ngân hàng sẽ giảm tốc trong năm 2026, với dự báo tổng tăng trưởng tín dụng của danh mục các ngân hàng mà chúng tôi theo dõi giảm xuống 17%, từ mức 20% của năm 2025" - nhóm phân tích VDSC nhìn nhận.
Để thu hẹp khoảng cách tăng trưởng tín dụng - huy động, VDSC cho rằng, lãi suất huy động nhiều khả năng tiếp tục tăng trong ngắn hạn trước khi tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) được kiểm soát tốt hơn và giúp lãi suất tìm được điểm cân bằng.
Không chỉ tái kiểm soát tỷ lệ LDR, các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần, cũng sẽ phải kiểm soát tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, vốn có xu hướng tăng trong năm 2025.
Các ngân hàng có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cao (từ 25% trở lên) sẽ có nhu cầu huy động trung dài hạn lớn, kéo theo hệ quả là tỷ lệ CASA giảm và triệt tiêu dư địa cải thiện NIM.
Một thách thức lớn thứ ba của ngành ngân hàng là nguy cơ nợ xấu gia tăng trở lại khi lãi suất có biến động mạnh.
"Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng - thường là mức lãi suất tham chiếu cho các khoản vay trong giai đoạn thả nổi - đã tăng mạnh từ 100 đến 200 điểm cơ bản chỉ trong hơn một quý vừa qua. Tốc độ tăng này không phải là chưa có tiền lệ, nhưng hệ quả của nó thì đã được lịch sử kiểm chứng" - chuyên gia VDSC chỉ rõ.
Nhìn lại hai chu kỳ nợ xấu trước đây, giai đoạn 2010 - 2012, khi lãi suất tăng vọt dẫn đến làn sóng nợ xấu buộc phải thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).
Cùng với đó, giai đoạn 2022 - 2023 khi xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ toàn cầu và khủng hoảng trái phiếu doanh nghiệp đẩy nợ xấu toàn ngành lên cao.
Nhóm phân tích VDSC nhận thấy, có thể mức tăng lãi suất hiện tại hoàn toàn có khả năng ảnh hưởng tới khả năng trả nợ trong kế hoạch và kích hoạt một chu kỳ nợ xấu mới./.




