Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
aa
Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Dòng tiền lớn “gánh” áp lực tín dụng, dư địa tăng NIM

Trong báo cáo "Triển vọng ngành ngân hàng - Thuận lợi và thách thức trong năm 2026" mới phát hành, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận thấy, sau giai đoạn tập trung vào phục hồi kinh tế hậu đại dịch, với nhiều chính sách hỗ trợ được triển khai liên tục, ngành ngân hàng bước vào năm 2026 với cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt hơn hẳn.

Về mặt thuận lợi, theo VDSC, bối cảnh vĩ mô với mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng ở mức 10% và dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hạn chế, đồng nghĩa với việc động lực tăng trưởng được chuyển trọng tâm sang chính sách tài khóa và thị trường vốn đóng vai trò quan trọng hơn trong việc huy động và phân bổ vốn đầu tư dài hạn.

Cùng với đó, làn sóng đầu tư công mạnh mẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định cho hoạt động ngân hàng liên quan đến vấn đề thanh khoản. Theo đó, cho năm 2026, chi đầu tư phát triển dự toán đạt trên 1,1 triệu tỷ đồng, tăng hơn 40% cùng kỳ; bội chi ngân sách dự toán hơn 600.000 tỷ đồng, tăng gần 30% cùng kỳ và tương ứng 4,2% GDP, cao hơn mức 3,6% của năm 2025.

"Như vậy, dòng tiền lớn sẽ được bơm vào nền kinh tế và bồi đắp trực tiếp vào nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng, từ đó, tạo áp lực giảm lên mặt bằng lãi suất liên ngân hàng. Đây là cơ chế truyền dẫn tích cực từ tài khóa sang tiền tệ, giúp bù đắp phần nào cho dư địa chính sách tiền tệ đang bị thu hẹp trong năm nay" - chuyên gia VDSC đánh giá.

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng. Ảnh minh họa.

Một điểm sáng đáng chú ý được nhóm phân tích VDSC kỳ vọng trong năm 2026 là dư địa cải thiện biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng.

Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích VDSC phân tích, dư địa mở rộng NIM trong ngắn hạn được thúc đẩy bởi quá trình định giá lại lãi suất của các khoản vay. Đặc biệt trong 3 tháng đầu năm 2026, quy mô dư nợ được điều chỉnh lên mức lãi suất cao hơn vượt trội so với quy mô nguồn vốn huy động được điều chỉnh trong cùng kỳ. Việc điều chỉnh này chủ yếu bám theo biến động của lãi suất cơ sở, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 - 6 tháng đối với khoản vay ngắn hạn và từ 12 tháng trở lên đối với khoản vay trung, dài hạn.

Thanh khoản căng, nợ xấu rình rập

Về những trở ngại, thách thức về cấu trúc cho năm 2026, chuyên gia VDSC cho rằng, dù có nhiều yếu tố hỗ trợ, ngành ngân hàng năm 2026 cũng đứng trước không ít thách thức đáng kể.

Theo đó, dư địa chính sách tiền tệ đã bị thu hẹp sau nhiều năm triển khai các gói hỗ trợ phục hồi kinh tế, trong khi áp lực lạm phát từ bên ngoài do rủi ro thương mại và địa chính trị toàn cầu vẫn còn rất phức tạp.

Điều này được thể hiện rõ qua quan điểm thận trọng của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách, bao gồm việc giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng mục tiêu ngay từ đầu năm xuống 15%, so với 16% đầu năm 2025 và mức tăng trưởng thực tế 19% của năm 2025.

Đồng thời, nhà điều hành kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo từng quý và siết chặt dòng vốn chảy vào lĩnh vực bất động sản, khi khống chế tăng trưởng tối đa bằng hạn mức tăng trưởng tín dụng chung của ngân hàng.

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Tăng trưởng tín dụng cũng chịu sức ép giảm tốc từ hai yếu tố cấu trúc. Một mặt, động lực tăng trưởng truyền thống đến từ bất động sản bị Ngân hàng Nhà nước kiềm chế thông qua các biện pháp kiểm soát dòng vốn nói trên, làm mất đi một đầu kéo quan trọng của tổng dư nợ toàn hệ thống.

Mặt khác, lãi suất cho vay đã tăng khá mạnh trong thời gian gần đây, khiến nhu cầu tín dụng tiêu dùng và đầu tư cá nhân bị trì hoãn. Nhiều khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ chọn cách chờ đợi thay vì vay vốn khi chi phí lãi vay còn ở mức cao.

Kiểm soát thanh khoản là thách thức lớn

"Thách thức trực tiếp và rõ ràng nhất trong ngắn hạn đối với các ngân hàng là bài toán kiểm soát thanh khoản. Mặc dù lãi suất huy động đã tăng mạnh ở nhiều ngân hàng ngày từ những tháng đầu năm, từ 100 - 300 điểm cơ bản ở các kỳ hạn từ 6 tháng đến trung hạn, huy động vốn chỉ tăng 0,8% trong khi tín dụng đã tăng 1,4% trong 02 tháng đầu năm 2026, khoảng cách chênh lệch giữa cung - cầu vốn vẫn còn tồn tại".

Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích VDSC.

"Trong bối cảnh thách thức này, chúng tôi dự phóng tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngành ngân hàng sẽ giảm tốc trong năm 2026, với dự báo tổng tăng trưởng tín dụng của danh mục các ngân hàng mà chúng tôi theo dõi giảm xuống 17%, từ mức 20% của năm 2025" - nhóm phân tích VDSC nhìn nhận.

Để thu hẹp khoảng cách tăng trưởng tín dụng - huy động, VDSC cho rằng, lãi suất huy động nhiều khả năng tiếp tục tăng trong ngắn hạn trước khi tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) được kiểm soát tốt hơn và giúp lãi suất tìm được điểm cân bằng.

Không chỉ tái kiểm soát tỷ lệ LDR, các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần, cũng sẽ phải kiểm soát tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, vốn có xu hướng tăng trong năm 2025.

Các ngân hàng có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cao (từ 25% trở lên) sẽ có nhu cầu huy động trung dài hạn lớn, kéo theo hệ quả là tỷ lệ CASA giảm và triệt tiêu dư địa cải thiện NIM.

Một thách thức lớn thứ ba của ngành ngân hàng là nguy cơ nợ xấu gia tăng trở lại khi lãi suất có biến động mạnh.

"Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng - thường là mức lãi suất tham chiếu cho các khoản vay trong giai đoạn thả nổi - đã tăng mạnh từ 100 đến 200 điểm cơ bản chỉ trong hơn một quý vừa qua. Tốc độ tăng này không phải là chưa có tiền lệ, nhưng hệ quả của nó thì đã được lịch sử kiểm chứng" - chuyên gia VDSC chỉ rõ.

Nhìn lại hai chu kỳ nợ xấu trước đây, giai đoạn 2010 - 2012, khi lãi suất tăng vọt dẫn đến làn sóng nợ xấu buộc phải thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Cùng với đó, giai đoạn 2022 - 2023 khi xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ toàn cầu và khủng hoảng trái phiếu doanh nghiệp đẩy nợ xấu toàn ngành lên cao.

Nhóm phân tích VDSC nhận thấy, có thể mức tăng lãi suất hiện tại hoàn toàn có khả năng ảnh hưởng tới khả năng trả nợ trong kế hoạch và kích hoạt một chu kỳ nợ xấu mới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, lãi suất huy động một tháng qua ít “gợn sóng”, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn đẩy trên 9%/năm. Dù thanh khoản ngắn hạn dịu lại, mặt bằng lãi suất chưa giảm rõ rệt, khi sức ép không chỉ đến từ thanh khoản, mà còn từ những vấn đề cấu trúc trong bảng cân đối ngân hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 03/09/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 03/09/2026 01:00
Ngân hàng