HSBC: Kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng 6,8% trong năm 2022

Hoàng Yến
(TBTCO) - HSBC nhận định kinh tế Việt Nam có thể lấy lại nhịp tăng trưởng GDP ở mức 6,8% trong năm 2022 chủ yếu nhờ đầu tư FDI mạnh mẽ trở lại, từ đó thúc đẩy xuất khẩu cho Việt Nam, đặc biệt khi các FTA mới ký gần đây bắt đầu mang lại hiệu quả.
aa
Năm 2022: Xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 6 – 6,5% Thị trường vốn Việt Nam cần thêm những mảng màu xanh HSBC Việt Nam hỗ trợ các nhà đầu tư quốc tế rót vốn vào ‘kỳ lân’ thứ hai của Việt Nam

Ông Tim Evans - Tổng Giám đốc HSBC Việt Nam vừa có bài viết điểm lại tình hình kinh tế Việt Nam năm 2021 và nhận định về triển vọng năm 2022.

Năm 2021: Cột mốc quan trọng về số hóa

Theo ông Tim Evans, sau vài tháng khó khăn do phải áp dụng các biện pháp giãn cách nghiêm ngặt, tình hình đang ngày càng ổn định hơn. Chỉ số PMI phản ánh mức độ tự tin của các nhà sản xuất đã tăng lên 52,2 trong tháng 11 cho thấy điều kiện kinh doanh cải thiện tháng thứ hai liên tiếp sau thời kỳ giảm do đợt bùng dịch thứ tư khởi phát từ hồi tháng 4. Hoạt động kinh doanh đã nhộn nhịp trở lại trong vài tháng qua và tâm lý vững tin đang dần trở lại bất chấp vẫn còn nhiều trở ngại do lao động chưa trở lại nhà máy.

HSBC: Tim Evans
Ông Tim Evans, Tổng giám đốc HSBC Việt Nam

Tuy nhiên, chưa ai dám nói chắc liệu chúng ta có trở lại mạnh mẽ với đà tăng trưởng bền vững hay không. Đơn hàng điện tử tiêu dùng bắt đầu giảm nhẹ. Một phần nguyên nhân là trong những đợt giãn cách đầu tiên, các hộ gia đình trên thế giới đã chi tiêu mạnh tay để mua sắm từ máy tính xách tay tới thiết bị kết nối và TV mới tới máy chơi game. Kết quả là nhu cầu bắt đầu giảm dần nhưng bù lại nhu cầu về điện tử công nghiệp cũng như linh kiện lắp ráp máy móc và các thiết bị sản xuất khác lại gia tăng.

HSBC dự báo nếu cơn khủng hoảng Covid qua đi, thế giới sẽ có một chu kỳ đầu tư vốn lớn diễn ra trên diện rộng, đảm bảo nhu cầu điện tử công nghiệp sẽ duy trì mạnh mẽ và mang lại lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam.

Một động lực quan trọng cho kinh tế Việt Nam trước dịch Covid-19 chính là du lịch. Trước khi xảy ra dịch Covid-19, Việt Nam được dự báo sẽ đón 20 triệu lượt khách du lịch trong năm 2020, kỳ vọng sẽ đóng góp 36 tỷ USD cho GDP, tương đương 14% tổng GDP. Tới tháng 11/2021, Việt Nam mới chỉ đón 140.106 lượt khách nước ngoài, tương đương mức giảm trên 96%.

Động lực kinh tế này đã nguội lạnh trong 24 tháng qua nhưng với tình hình biến chủng Delta đang dần yếu đi cùng với tỷ lệ phủ vắc-xin tăng lên, các cơ quan chức năng đã thảo luận về khả năng nới lỏng một số hạn chế du lịch và từng bước mở cửa lại biên giới. Thách thức đặt ra trong năm 2022 là diễn biến khó lường của đại dịch Covid -19, đặc biệt với sự xuất hiện của biến chủng mới mang tên Omicron.

Trong bài viết của mình, Tổng giám đốc HSBC Việt Nam cũng đi sâu vào hai lĩnh vực quan trọng với Việt Nam trong bối cảnh hậu Covid là tài chính bền vững và số hóa. Năm 2021 chứng kiến những bước tiến tích cực trên thị trường tài chính xanh của Việt Nam với nhiều giao dịch lớn liên quan đến bền vững. Tuy nhiên, thị trường này mới đang ở giai đoạn non trẻ và còn nhiều tiềm năng để phát triển.

Năm 2021 cũng là một cột mốc quan trọng của ngành ngân hàng xét về tiến độ số hóa. Tỷ lệ sử dụng công nghệ tài chính và ví điện tử của Việt Nam tăng từ 16% trong năm 2017 lên 56% vào năm 2021. Đại dịch Covid-19 đóng vai trò như một yếu tố xúc tác giúp Việt Nam đẩy nhanh tiến độ số hóa nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng.

Trong tương lai, nhiều chuyên gia tin rằng chuyển đổi số sẽ là động lực quan trọng giúp phục hồi và phát triển kinh tế. Khi đó, ngành ngân hàng sẽ đóng vai trò không nhỏ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của Việt Nam.

Lạm phát dự kiến đạt 3,5% trong năm 2022

Đánh giá những tháng cuối năm và tình hình trong tương lai, Bộ phận Nghiên cứu Toàn cầu HSBC nhận định kinh tế Việt Nam có thể lấy lại nhịp tăng trưởng GDP ở mức 6,8% trong năm 2022 chủ yếu nhờ đầu tư FDI mạnh mẽ trở lại tập trung nhiều vào lĩnh vực sản xuất từ đó thúc đẩy xuất khẩu cho Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam ký trong vòng hai năm qua bắt đầu mang lại trái ngọt.

Tầng lớp trung lưu tiếp tục mở rộng và cụ thể là tầng lớp giàu ngày một gia tăng sẽ thúc đẩy tiêu dùng của Việt Nam từ đó mang lại thay đổi tích cực trong lĩnh vực tiêu dùng bởi người Việt Nam đã bắt đầu chi tiêu mạnh tay hơn cho giải trí và du lịch.

Cơ sở hạ tầng mới đưa vào sử dụng cũng sẽ tiếp tục “tiếp thêm nhiên liệu” cho các hoạt động kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực tái tạo/năng lượng xanh sau khi chính phủ Việt Nam đã ra những tham vọng lớn sau Hội nghị COP26, cụ thể mục tiêu hướng đến của Việt Nam là tới năm 2045, năng lượng tái tạo sẽ chiếm tới 75% tổng năng lượng sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, theo ông Tim Evans, cần theo dõi sát sao một số vấn đề để tránh những tác động tiêu cực có thể xảy ra cho nền kinh tế trong tương lai. Trong đó, cần giám sát kỹ giá năng lượng đang tăng lên. Hệ quả là chi phí vận chuyển tăng nhanh chóng và là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát trong nước.

Quan điểm hiện tại của HSBC là nhu cầu trong nước phục hồi từng bước có thể bù đắp cho giá năng lượng cao, vì vậy, ngân hàng này đánh giá lạm phát có thể tăng lên 3,5% trong năm 2022 và vẫn nằm trong ngưỡng cho phép.

Đánh giá yếu tố bất ổn nhất vẫn chính là Covid, ông Tim Evans đề nghị bất kỳ đợt bùng dịch nào trong tương lai cũng cần được kiểm soát bằng giải pháp hạn chế hoặc giãn cách khoanh vùng, thay vì áp dụng trên diện rộng như nhiều nước đã triển khai trong năm 2021 và để lại hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế.

“Năm 2021 đã sắp khép lại, đây là lúc để chúng ta hít một hơi thật sâu và tin rằng tình huống tệ nhất đã nằm lại sau lưng chúng ta, Việt Nam sẽ lấy lại đà tăng trưởng kinh tế vượt bậc của năm 2019. Đồng nghiệp tại HSBC nói với tôi rằng chúng ta sắp sửa đón năm Nhâm Dần và có thể yên tâm phần nào vì linh vật năm sau là loài hổ vốn tự tin, bản lĩnh, dũng cảm và mạnh mẽ. Tất cả những phẩm chất này sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi thách thức trong năm 2022 và trở lại lộ trình phục hồi thực sự”- ông Tim Evans nói.
Hoàng Yến

Đọc thêm

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Kim TT/AVPL 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▲200K 15,200 ▲200K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▲200K 15,150 ▲200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▲200K 16,200 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▲200K 16,150 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▲200K 16,130 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Hà Nội - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Đà Nẵng - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Miền Tây - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Tây Nguyên - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 ▲1500K 163,500 ▲1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
NL 99.90 14,600 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650 ▲50K
Trang sức 99.9 15,490 ▲150K 16,190 ▲150K
Trang sức 99.99 15,500 ▲150K 16,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 160 ▲1K 16,302 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 160 ▲1K 16,303 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 160 ▲2K 163 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 160 ▲2K 1,631 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 158 ▲2K 1,615 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,401 ▲1980K 159,901 ▲1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,387 ▲1500K 121,287 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,081 ▲1360K 109,981 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,775 ▲1220K 98,675 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,414 ▲1166K 94,314 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,602 ▲834K 67,502 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Cập nhật: 21/05/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18223 18498 19076
CAD 18626 18903 19516
CHF 32841 33226 33878
CNY 0 3836 3928
EUR 30003 30276 31303
GBP 34598 34991 35931
HKD 0 3235 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15132 15721
SGD 20064 20346 20871
THB 723 787 839
USD (1,2) 26101 0 0
USD (5,10,20) 26143 0 0
USD (50,100) 26171 26191 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,238 30,262 31,522
JPY 161.93 162.22 171
GBP 34,904 34,998 36,007
AUD 18,569 18,636 19,226
CAD 18,876 18,937 19,518
CHF 33,196 33,299 34,091
SGD 20,265 20,328 21,009
CNY - 3,813 3,937
HKD 3,308 3,318 3,437
KRW 16.25 16.95 18.33
THB 774.91 784.48 834.53
NZD 15,178 15,319 15,681
SEK - 2,784 2,867
DKK - 4,046 4,165
NOK - 2,805 2,893
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,244.16 - 7,008.46
TWD 756.47 - 911.12
SAR - 6,927.21 7,254.01
KWD - 83,872 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26165 26165 26391
AUD 18428 18528 19451
CAD 18814 18914 19928
CHF 33119 33149 34732
CNY 3819.5 3844.5 3980
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30206 30236 31961
GBP 34923 34973 36733
HKD 0 3355 0
JPY 162.46 162.96 173.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15250 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20238 20368 21094
THB 0 753 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16050000 16050000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,195 26,245 26,391
USD20 26,195 26,245 26,391
USD1 23,879 26,245 26,391
AUD 18,554 18,654 19,776
EUR 30,370 30,370 31,796
CAD 18,775 18,875 20,195
SGD 20,327 20,477 21,400
JPY 162.97 164.47 169.11
GBP 34,837 35,187 36,315
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/05/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80