Lãi suất đầu vào sẽ tăng nhẹ 70 - 100 điểm cơ bản trong nửa sau năm 2024

Thái Duy
(TBTCO) - MBS Research dự báo, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ có thể nhích thêm 70 - 100 điểm cơ bản, quay về mức 5,3% - 5,6% trong nửa sau năm 2024. Tuy nhiên, lãi suất đầu ra sẽ vẫn duy trì ở mặt bằng hiện tại trong bối cảnh các cơ quan quản lý và ngân hàng thương mại nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn.
aa

Lãi suất đầu vào đang tăng

Theo số liệu từ MBS Research, lãi suất liên ngân hàng tiệm cận ngưỡng 5%, thiết lập mặt bằng mới do nhu cầu về thanh khoản gia tăng. Ngày 25/5, lãi suất qua đêm bật tăng lên mức 4,9%, sau đó đã giảm nhẹ.

Thống kê trên website của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ngày 6/6/2024, tỷ giá qua đêm giao dịch tại 3,96%. Lãi suất các kỳ hạn khác từ 1 tuần đến 1 tháng cũng đang giao dịch từ 4,29% - 4,52%.

Theo dự kiến của các chuyên gia MBS Research, lãi suất liên ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong bối cảnh cung tiền VND giảm khi NHNN vẫn ưu tiên mục tiêu kiểm soát, bình ổn thị trường vàng và ngoại tệ.

Lãi suất đầu vào sẽ tăng nhẹ 70 - 100 điểm cơ bản trong nửa sau năm 2024

Trên thị trường 1, từ đầu tháng 5, các ngân hàng thương mại (NHTM) vừa và nhỏ tiên phong cho việc tăng lãi suất huy động, tiếp theo là đến các NHTM lớn. Tính đến ngày 21/5, trong số các ngân hàng mà MBS Research theo dõi, lãi suất huy động 12 tháng trung bình của các NHTM vừa và nhỏ tăng 0,3% so với tháng trước; trong khi các NHTM lớn tăng 0,1%. Các NHTM Nhà nước hiện tại vẫn chưa tăng lãi suất huy động chính thức trên trang cá nhân, nhưng được dự báo cũng không nằm ngoài xu thế này.

Lãi suất đầu vào sẽ tăng nhẹ 70 - 100 điểm cơ bản trong nửa sau năm 2024

Các chuyên gia của MBS Research cho rằng, cầu tín dụng sẽ tiếp tục xu hướng tăng lên mạnh hơn từ giữa năm 2024 khi sản xuất và đầu tư tăng tốc mạnh hơn trong những tháng cuối năm. Lũy kế 5 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp (IPP) tăng 6,8% so với cùng kỳ; chỉ số quản trị người mua hàng (PMI) tăng 50,3 điểm. Đầu tư công và tư nhân cũng tăng 5%.

“Chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các NHTM lớn sẽ có thể nhích thêm 70 - 100 điểm cơ bản, quay về mức 5,3% - 5,6% trong nửa sau năm 2024. Tuy nhiên, lãi suất đầu ra sẽ vẫn duy trì ở mặt bằng hiện tại trong bối cảnh các cơ quan quản lý và NHTM nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn” - chuyên gia của MBS Research dự báo.

Áp lực lên tỷ giá sẽ sớm hạ nhiệt

Chỉ số đồng USD (DXY) bắt đầu giảm từ mức 106,5 điểm sau cuộc họp của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC - thuộc FED) ngày 1/5. Trong cuộc họp, Chủ tịch FED Jerome Powell không cho rằng, động thái tiếp theo có thể là một đợt tăng lãi suất mà sẽ phải duy trì mức lãi suất hiện nay trong một thời gian.

Đáng chú ý, các thị trường cũng đang giảm dần kỳ vọng về việc các ngân hàng trung ương lớn khác sẽ cắt giảm lãi suất. Chỉ số DXY kết thúc tháng 5 ở mức 104,7 điểm, sau khi dữ liệu cho thấy nền kinh tế lớn nhất thế giới chỉ tăng trưởng 1,3% trong quý đầu năm 2024, thấp hơn so với kết quả sơ bộ công bố trước đó là 1,6%, phản ánh doanh số bán lẻ và chi tiêu tiêu dùng yếu hơn dự kiến.

Tuy nhiên, niềm tin của người tiêu dùng bất ngờ được cải thiện và thị trường lao động cho thấy sự ổn định, cho thấy nền kinh tế Mỹ vẫn mạnh mẽ bất chấp lạm phát vượt mục tiêu 2%. Các nhà đầu tư hiện nay nhận thấy có 50/50 cơ hội FED cắt giảm lãi suất 25 điểm cơ bản vào tháng 9 và tổng cộng 57 điểm dự kiến cho đến tháng 12.

Lãi suất đầu vào sẽ tăng nhẹ 70 - 100 điểm cơ bản trong nửa sau năm 2024
Sự ổn định của môi trường vĩ mô nhiều khả năng sẽ được duy trì và cải thiện hơn nữa sẽ là cơ sở để ổn định tỷ giá trong năm 2024. Dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 25.100 - 25.300 VND/USD trong tháng 6 và tháng 7.

Theo các chuyên gia của MBS Research, NHNN đã thực hiện các biện pháp ổn định tỷ giá như bán ngoại tệ, nhưng đồng thời đẩy lãi suất liên ngân hàng tăng trong thời gian gần đây, do cung tiền đã bị rút bớt và khiến thanh khoản thắt chặt hơn trong hệ thống.

Tỷ giá VND/USD liên ngân hàng giữ vững ở mức 25.457 trong tháng 5, tăng 4,4% từ đầu năm. Tỷ giá trên thị trường tự do là 25.790 VND/USD, trong khi tỷ giá trung tâm là 24.261 VND/USD, tăng lần lượt 4,2% và 1,7% so với đầu năm 2024. Xu hướng giảm của VND vẫn khá tương đồng so với các đồng tiền khác trong khu vực, ví dụ như baht Thái (-6,9% từ đầu năm), Malaysia ringgit (-2,4%), Nhân dân tệ (- 2,3%), và yen Nhật (-10,5%).

Chuyên gia của MBS Research cho rằng, tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 25.100 - 25.300 VND/USD trong tháng 6 và tháng 7 dưới những yếu tố tích cực hỗ trợ. Cụ thể như: Những yếu tố vĩ mô tích cực sẽ hỗ trợ như thặng dư thương mại tích cực khi lũy kế 5 tháng 2024 đạt 8 tỷ USD; dòng vốn FDI thực hiện 5 tháng ước đạt 8,2 tỷ USD (+7,8% so với cùng kỳ), và du lịch phục hồi mạnh mẽ khi 5 tháng 2024 tăng 64,9% so với cùng kỳ.

“Sự ổn định của môi trường vĩ mô nhiều khả năng sẽ được duy trì và cải thiện hơn nữa sẽ là cơ sở để ổn định tỷ giá trong năm 2024” - chuyên gia của MBS Research cho hay./.

Thái Duy

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 145,500
Hà Nội - PNJ 142,400 145,500
Đà Nẵng - PNJ 142,400 145,500
Miền Tây - PNJ 142,400 145,500
Tây Nguyên - PNJ 142,400 145,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 145,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 14,560
Miếng SJC Nghệ An 14,260 14,560
Miếng SJC Thái Bình 14,260 14,560
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 14,610
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 14,520
Trang sức 99.99 13,930 14,530
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 14,562
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 14,563
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 1,451
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 1,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 142,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 108,236
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 98,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 8,806
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 84,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 60,246
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cập nhật: 15/09/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17986 18260 18837
CAD 18163 18439 19061
CHF 31136 31514 32158
CNY 0 3830 3927
EUR 29352 29573 30653
GBP 34232 34623 35564
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14687 15275
SGD 19900 20182 20762
THB 697 760 813
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25802 25802 26162
AUD 18165 18265 19187
CAD 18350 18450 19464
CHF 31398 31428 33010
CNY 3812.8 3837.8 3973
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29541 29571 31294
GBP 34545 34595 36352
HKD 0 3305 0
JPY 164.62 165.12 175.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14794 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20062 20192 20923
THB 0 725.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 15/09/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30