Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu và tín hiệu tích cực kép

Chí Tín
(TBTCO) - Lãi suất bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đang tiếp đà giảm rất sâu, thậm chí đã xuống sát mốc 2% và đây có thể coi là một tín hiệu tích cực kép. Một mặt thể hiện sự dồi dào thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong nước giữa nhiều biến cố bên ngoài. Mặt khác, doanh nghiệp tiếp tục kỳ vọng sẽ được tiếp cận nguồn tài chính rẻ hơn nữa trong thời gian tới.
aa

Lãi suất giảm về sát mốc 2%

Thông tin về diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng trong những ngày gần đây cho thấy, lãi suất ngày càng lùi sâu với lãi suất cho vay qua đêm, thậm chí đã giảm xuống chỉ còn 2,05%. Lãi suất liên ngân hàng tại các kỳ hạn hạn khác cũng đã giảm xuống mức rất thấp, với kỳ hạn 1 tuần chỉ còn 2,61%, kỳ hạn 2 tuần chỉ còn 3,37% và kỳ hạn 1 tháng cũng chỉ còn 4,76%. Với diễn biến này, lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã giảm rất mạnh sau một giai đoạn tăng nhiệt vào đầu tháng 3.

Nguồn: Cục Dự trữ liên bang Mỹ
Nguồn: Cục Dự trữ liên bang Mỹ

Trước đó, giai đoạn đầu tháng 3/2022 ghi nhận thời điểm lãi suất liên ngân hàng tăng khá mạnh và lãi suất cho vay qua đêm nhiều lúc vượt lên trên mốc 6% và thậm chí gần tiếp cận mức trên 7% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại thời điểm đó. Cụ thể, lãi suất cho vay qua đêm ghi nhận ngày 3/3 đã đạt mốc 6,4%. Các kỳ hạn khác cũng leo lên mặt bằng khá cao với 1 tuần là 6,54%, 2 tuần là 6,65%, 1 tháng là 7,76%...

Trong khi đó, xu hướng lãi suất hiện tại đã xuống thậm chí thấp hơn lãi suất tại thời điểm trước khi NHNN thực hiện 2 đợt tăng lãi suất điều hành vào tháng 9 và tháng 10 năm ngoái. Cụ thể, thông tin về lãi suất liên ngân hàng thời điểm nửa cuối tháng 8/2022 vẫn ghi nhận ở mức 3,53% với lãi suất cho vay qua đêm, 3,6% với lãi suất kỳ hạn 1 tuần, 4,18% với lãi suất 2 tuần, 4,53% với lãi suất kỳ hạn 1 tháng… Tại thời điểm cuối tháng 10/2022, lãi suất kỳ hạn qua đêm ở mức khoảng 3,8%, 1 tuần là 4,81%, 2 tuần là 5%, 1 tháng là 6,63%...

Tín hiệu tích cực kép

Theo đánh giá của các chuyên gia tài chính, động thái giảm lãi suất liên ngân hàng thường cho thấy biểu hiện về tín hiệu thanh khoản dồi dào của hệ thống ngân hàng. TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, lãi suất liên ngân hàng giảm nhiệt sẽ là yếu tố nền tảng cơ bản giúp cho lãi suất ở bên ngoài cũng giảm dần.

Hiện tại, các yếu tố này mới đang ở mức sơ khởi ban đầu, chưa thể có tác động ngay đến nền kinh tế, vì thông thường mỗi sự thay đổi chờ đợi thêm một khoảng thời gian để có thể có những tác động rõ ràng. Tuy nhiên, việc lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh phần nào cho thấy hoạt động thị trường mở (OMO) từ phía NHNN đã hỗ trợ tốt cho thanh khoản của các ngân hàng.

Đặc biệt, tín hiệu thanh khoản tốt của hệ thống ngân hàng trong nước cũng có ý nghĩa rất lớn trong củng cố niềm tin người dân trước bối cảnh thời gian vừa qua xảy ra một số biến cố trên thị trường tiền tệ thế giới như việc phá sản 3 ngân hàng của Mỹ, hoặc việc Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ buộc phải can thiệp để Ngân hàng UBS mua lại ngân hàng lớn thứ hai của nước ngày là Credit Suisse.

Ngoài ra, lãi suất liên ngân hàng vẫn tiếp tục duy trì ở mặt bằng thấp, thì một dự báo tích cực khác cũng có thể diễn ra là khi hệ thống ngân hàng đang trong tình trạng dồi dào tiền, thì các ngân hàng cũng sẽ phải nhanh chóng đẩy mạnh cho vay. Bởi lẽ, ngân hàng sau khi huy động tiền, nếu nắm giữ quá lâu thì chính các ngân hàng cũng sẽ phải chịu áp lực lớn về chi phí tài chính do họ vẫn phải trả lãi cho người gửi tiền. Với kịch bản này, quy luật cung - cầu sẽ khiến cho mặt bằng lãi suất cho vay được kỳ vọng có thể giảm xuống, tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Diễn biến lãi suất hiện tại cũng cho thấy, những nỗ lực của Hiệp hội Ngân hàng (VNBA) thời gian qua trong việc kêu gọi các hội viên ngừng chạy đua lãi suất thời điểm cuối năm 2022 cũng đã bắt đầu có tác dụng nhất định. Thời điểm đó, VNBA đưa ra yêu cầu các hội viên không tăng lãi suất huy động và ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký VNBA khi đó cũng dự báo bước sang năm 2023 thì mặt bằng lãi suất sẽ hạ nhiệt.

Trong khi đó, một động thái khác cũng đang có diễn biến tích cực cho lãi suất là tỷ giá vẫn trong xu hướng ổn định. Đặc biệt, động thái của NHNN từ đầu năm 2023 là tiếp tục mua thêm ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối, đồng thời với động thái này là bơm thêm tiền Việt vào lưu thông. Điều này khiến cho dự trữ ngoại hối của NHNN đang ở trạng thái khá dồi dào để có thể can thiệp nếu có biến động tỷ giá trong thời gian tới. Trong khi đó, nguồn cung tiền đồng Việt Nam trong nền kinh tế hiện cũng đầy đủ đáp ứng các nhu cầu đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.

Xu hướng lãi suất của Việt Nam đi ngược chiều thế giới

Lãi suất liên ngân hàng của Việt Nam ngày càng giảm mạnh diễn ra trong bối cảnh lãi suất thị trường quốc tế vẫn tiếp tục tăng.

Mới đây nhất, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) hôm 22/3 thông báo nâng lãi suất tham chiếu thêm 25 điểm cơ bản (0,25%). Với việc tăng lãi suất lần này, FED đã tăng lãi suất 9 lần liên tiếp kể từ tháng 3/2022, theo đó, lãi suất tham chiếu tại Mỹ hiện vào khoảng 4,75-5%. Đây là mức cao nhất kể từ tháng 9/2007. Mức tăng lãi lần này nằm trong dự báo của thị trường, bất chấp các biến động gần đây với ngành ngân hàng toàn cầu, nhiều ngân hàng của Mỹ liên tiếp bị đóng cửa.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,850 ▼500K 16,050 ▼500K
Nguyên Liệu 99.9 15,800 ▼500K 16,000 ▼500K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17759 18032 18608
CAD 18520 18797 19414
CHF 32574 32958 33606
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30085 31113
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3240 3442
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14937 15524
SGD 19997 20279 20797
THB 718 781 836
USD (1,2) 26080 0 0
USD (5,10,20) 26121 0 0
USD (50,100) 26149 26169 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80