Lợi nhuận ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục giữ đà tăng trưởng

Thu Hương
(TBTCO) - Theo các chuyên gia, lợi nhuận của ngành ngân hàng trong quý III/2024 dự kiến sẽ có sự cải thiện đáng kể so với quý II. Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng duy trì dự báo rằng lợi nhuận toàn ngành ngân hàng trong quý IV/2024 và cả năm 2025 sẽ tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng.
aa
Lợi nhuận ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục giữ đà tăng trưởng
Nửa đầu năm 2024, các ngân hàng lớn đều ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng. Ảnh tư liệu
Ngân hàng giảm kỳ vọng lợi nhuận, nhưng bức tranh không quá xấu

Tăng trưởng quý III có thể đạt đỉnh

Ông Vương Dương Đức - Trưởng nhóm Vĩ mô và ngành ngân hàng, Công ty TNHH MTV Quản lý Quỹ Dai-ichi Life Việt Nam (DFVN) cho biết, báo cáo lợi nhuận trong nửa đầu năm 2024 cho thấy, các ngân hàng lớn đều ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng nhờ vào việc mở rộng cho vay và cải thiện biên lãi ròng (NIM). Điều này phản ánh khả năng quản lý tài sản hiệu quả và sự tận dụng tối đa cơ hội trên thị trường. Tuy nhiên, trong bức tranh lợi nhuận chung, không phải ngân hàng nào cũng đạt kết quả khả quan.

Ông Na Sung Soo, Giám đốc điều hành Công ty Chứng khoán Vina (VNSC) cũng nhận định rằng, lợi nhuận ngành ngân hàng dự kiến cải thiện trong quý III/2024, giúp nâng cao hiệu suất hoạt động cho 9 tháng của năm. Tăng trưởng tín dụng, một yếu tố chủ đạo đóng góp vào hiệu quả này, được kỳ vọng sẽ cao hơn trong quý III so với quý II trước đó. Đặc biệt, các ngân hàng lớn, dẫn đầu trong việc mở rộng cho vay, sẽ tiếp tục hưởng lợi.

Ông Dương Hoàng Anh đến từ Công ty CP Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết, tăng trưởng của ngành ngân hàng trong quý III/2024 ước tính đạt 29% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây được coi là giai đoạn đỉnh cao về lợi nhuận, bởi trong cùng kỳ năm ngoái, tín dụng chưa tăng nhanh do cả cung và cầu đều gặp nhiều hạn chế, NIM của toàn ngành chạm đáy và chi phí tín dụng lên đỉnh.

Với vai trò là ngành chiếm tỷ trọng lớn vốn hóa, sự phát triển của ngành ngân hàng cũng tác động mạnh đến toàn bộ thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, theo chuyên gia của VDSC, quý IV/2024 mức độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế sẽ có sự suy giảm, và cả năm 2024 dự báo tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của ngành ngân hàng ở mức 17%.

Ngân hàng Nhà nước mới đây đã công bố kết quả khảo sát về xu hướng kinh doanh trong quý IV/2024 của các tổ chức tín dụng. Theo đó, khoảng 71,9% - 76,3% các tổ chức tín dụng kỳ vọng tình hình kinh doanh sẽ khả quan hơn trong quý cuối năm cũng như cả năm 2024. Tỷ lệ tổ chức tín dụng kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng trưởng dương so với năm 2023 là 79,6%, trong khi 15,9% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận tăng trưởng âm trong năm 2024 và 4,4% cho rằng, lợi nhuận không thay đổi.

Lợi nhuận quý III đủ sức để "đánh thức" cổ phiếu?

Theo ông Na Sung Soo, cổ phiếu ngân hàng trong 9 tháng qua đã có những bước cải thiện mạnh mẽ nhờ tăng trưởng tín dụng và kiểm soát chất lượng tài sản. Tăng trưởng tín dụng đạt 8,53% vào cuối quý III/2024, tăng đáng kể so với 4,43% của quý II và 6,24% cùng kỳ năm ngoái. Sự mở rộng này đã hỗ trợ tích cực cho diễn biến cổ phiếu, đặc biệt là của các ngân hàng lớn.

Đa số các ngân hàng, đặc biệt là những tổ chức nhỏ đã tập trung mạnh vào kiểm soát chất lượng tài sản. Việc quản lý tài sản hiệu quả được coi là yếu tố quyết định cho tiềm năng tăng trưởng trong tương lai và điều này sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc định hình niềm tin của nhà đầu tư trong các giai đoạn tới.

Về giá cổ phiếu, đại diện DFVN cho biết, việc công bố kết quả kinh doanh quý III sắp tới được dự đoán sẽ không gây ra nhiều ảnh hưởng đến giá cổ phiếu ngân hàng, bởi chúng có thể sẽ phù hợp với mong đợi của thị trường. Tuy nhiên, các khoản lợi nhuận không liên quan đến tín dụng, như thu hồi nợ xấu hoặc giao dịch chứng khoán, có thể tác động mạnh hơn đến diễn biến cổ phiếu.

Đại diện DFVN dự đoán, lợi nhuận của ngành ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng trong giai đoạn cuối năm 2024 và kéo dài sang năm 2025, đóng góp quan trọng cho thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, điều cần lưu ý không chỉ là các con số lợi nhuận ngắn hạn, mà cần xem xét cả tính bền vững của lợi nhuận. Đây là yếu tố quyết định tạo ra sự phân hóa giữa các ngân hàng, phụ thuộc vào tệp khách hàng, chiến lược kinh doanh và khả năng quản trị rủi ro.

"Chất lượng lợi nhuận là yếu tố quan trọng cần được xem xét kỹ lưỡng. Nhà đầu tư có thể đánh giá chất lượng này bằng cách so sánh lợi nhuận với dòng tiền, từ đó xác định quy mô các khoản "phải thu". Đối với những ngân hàng có tỷ lệ "phải thu" cao, một phần lợi nhuận chưa được chuyển hóa thành tiền mặt, điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro trong dài hạn" - đại diện DFVN nhấn mạnh.

Nợ xấu đóng vai trò quan trọng trong định giá cổ phiếu dài hạn

Theo đại diện VNSC, tín dụng đạt 8,53%, vẫn còn dư địa để các ngân hàng phát triển, trở thành động lực chính cho hiệu suất cổ phiếu. Mặc dù, NIM có thể giảm nhẹ do lãi suất huy động tăng nhanh hơn lãi suất cho vay, ngân hàng quản lý tốt lãi suất có thể đạt

Thu Hương

Đọc thêm

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

(TBTCO) - Ngày 4/4, giá vàng trong nước hiện đang ghi nhận tăng tại nhiều doanh nghiệp, với cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh tăng, phổ biến quanh 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cập nhật: 05/04/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/04/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80