Ngân hàng giảm kỳ vọng lợi nhuận, nhưng bức tranh không quá xấu

Chí Tín
(TBTCO) - Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý IV/2024 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa thực hiện cho thấy kỳ vọng kinh doanh của các ngân hàng đang có phần kém lạc quan hơn so với báo cáo quý trước. Tuy nhiên, các số liệu về tín dụng vẫn ghi nhận đà tăng tốc và điểm sáng đáng chú ý là trạng thái thanh khoản hệ thống vẫn được duy trì tốt.
aa
Ngân hàng giảm kỳ vọng lợi nhuận, nhưng bức tranh không quá xấu
Các tổ chức tín dụng dự báo tình hình thanh khoản sẽ tiếp tục cải thiện trong quý IV/2024. Ảnh tư liệu

Giảm kỳ vọng lợi nhuận năm 2024

Theo điều tra về xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng (TCTD) quý IV/2024 do Vụ Dự báo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thực hiện, nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng (gồm nhu cầu gửi tiền, sử dụng dịch vụ thanh toán, thẻ và vay vốn) của khách hàng trong quý III/2024 có cải thiện so với quý II/2024 nhưng chưa đạt được như kỳ vọng. Trong đó, nhu cầu dịch vụ thanh toán và thẻ được nhận định cải thiện mạnh hơn nhu cầu vay vốn và gửi tiền trong cùng kỳ.

Tác động của chính sách và môi trường cạnh tranh

Các tổ chức tín dụng khi được khảo sát đã cho rằng, “chính sách tín dụng, lãi suất và tỷ giá của NHNN” được kỳ vọng là nhân tố khách quan quan trọng nhất giúp cải thiện tình hình kinh doanh của ngành Ngân hàng. Tuy nhiên, yếu tố từ “sự cạnh tranh từ các tổ chức tín dụng khác” tiếp tục được đánh giá là nguyên nhân quan trọng nhất tác động tiêu cực làm suy giảm tình hình kinh doanh của tổ chức tín dụng trong quý III/2024 và dự kiến cả năm 2024.

Trong quý IV/2024 và cả năm 2024, các TCTD dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng có thể cải thiện tốt hơn so với quý III/2024 và năm 2023, trong đó nhu cầu vay vốn được kỳ vọng cải thiện nhiều hơn nhu cầu gửi tiền và thanh toán.

Các TCTD trong nội dung trả lời khảo sát cho biết đã tiếp tục xu hướng giữ ổn định hoặc điều chỉnh giảm giá bình quân các sản phẩm, dịch vụ, trong đó, tập trung giảm lãi suất biên nhiều hơn so với giảm phí dịch vụ. Đồng thời, 17% TCTD cho biết dự kiến có thể điều chỉnh tăng nhẹ giá bình quân các sản phẩm, dịch vụ trong quý IV/2024, chủ yếu là tăng phí dịch vụ, trong khi vẫn dự kiến giảm lãi suất biên. Tính chung trong cả năm 2024, giá bình quân sản phẩm dịch vụ được các TCTD ước tính giảm so với năm 2023, giảm cả lợi suất suất biên và phí dịch vụ nhưng có thể tăng nhẹ trở lại trong năm 2025.

Các TCTD có xu hướng điều chỉnh tăng rất nhẹ mặt bằng lãi suất huy động và duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ở mức thấp. Tính chung cả năm 2024, các TCTD dự báo mặt bằng lãi suất huy động tăng nhẹ (0,1 điểm phần trăm) và mặt bằng lãi suất cho vay giảm nhẹ (0,09 điểm phần trăm) so với cuối năm 2023. Huy động vốn toàn hệ thống được các TCTD kỳ vọng tăng bình quân 3,2% trong quý IV/2024 và 7,9% trong năm 2024.

Tình hình kinh doanh tổng thể và lợi nhuận trước thuế của hệ thống ngân hàng trong quý III/2024 có cải thiện nhưng chưa đạt được như kỳ vọng ở kỳ điều tra trước. Tỷ lệ các TCTD kỳ vọng lợi nhuận trước thuế năm 2024 tăng trưởng dương so với năm 2023 là 79,6% (giảm so với tỷ lệ kỳ vọng 86,2% TCTD có cùng kỳ vọng tại kỳ điều tra trước). Bên cạnh đó, vẫn có 15,9% TCTD lo ngại lợi nhuận tăng trưởng âm trong năm 2024 (cao hơn tỷ lệ 11% TCTD kỳ vọng tại kỳ điều tra trước) và 4,4% ước tính lợi nhuận không thay đổi.

Thanh khoản vẫn duy trì tốt

Tại cuộc họp thường kỳ Chính phủ diễn ra đầu tháng 10, NHNN cho biết đến hết tháng 9, tín dụng tăng 9% so với đầu năm và tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái.

Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho rằng, các động lực tăng trưởng kinh tế từ phía cung và phía cầu đều có sự cải thiện và có sự phục hồi. Thông thường, tín dụng sẽ tăng mạnh vào những tháng cuối năm, vì vậy năm nay mục tiêu tăng 15% là hoàn toàn khả thi.

Các số liệu khác từ ngành Ngân hàng cho thấy, thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong quý III/2024 vẫn duy trì trạng thái tốt, tiếp tục cải thiện so với quý trước và đây là điều kiện thuận lợi để các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh cho vay trong quý IV. Tại thời điểm cuối quý III/2024, có 72,8% TCTD nhận định tình hình thanh khoản chung ở trạng thái tốt và 25,4% TCTD nhận định thanh khoản bình thường. Các TCTD dự báo tình hình thanh khoản sẽ tiếp tục cải thiện trong quý IV/2024 và cả năm 2024 so với năm 2023.

Ngoài ra, các hành động của NHNN thể hiện cơ quan này vẫn đang tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ mở rộng tín dụng để đảm bảo khả năng cung ứng vốn ra nền kinh tế. Hiện nay, các tổ chức tín dụng đã đăng ký các gói tín dụng cho vay mới và giảm lãi suất, đến tháng 10 đã có 30/45 các tổ chức tín dụng đăng ký với tổng giá trị các gói là 405.000 tỷ đồng, lãi suất sẽ giảm từ 0,5-2%.

Theo đánh giá của ông Uông Văn Quang, chuyên viên Chiến lược thị trường thuộc Công ty chứng khoán VPS, trong chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ, các doanh nghiệp được hưởng lợi từ chính sách thì cũng tác động tích cực trở lại cho chính các ngân hàng, tuy nhiên, cơ hội cũng không đồng đều giữa các ngân hàng. Chẳng hạn, các ngân hàng có dư nợ cho vay nhiều lĩnh vực bất động sản có thể sẽ thụ hưởng lợi ích sớm hơn do lĩnh vực này thường phản ứng nhạy hơn đối với chính sách. Trong khi đó, các ngân hàng có tỷ trọng cho vay các lĩnh vực kinh doanh khác như sản xuất, bán lẻ… có thể sẽ hưởng lợi chậm hơn./.

Chí Tín

Đọc thêm

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

(TBTCO) - Tại diễn đàn Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank khẳng định: “Trong kỷ nguyên AI, ngành ngân hàng vốn kinh doanh dựa trên niềm tin và uy tín suốt hàng trăm năm qua, giờ đây cần nỗ lực hơn nữa để khẳng định "vị thế tiên phong trong việc bảo vệ niềm tin số" cho khách hàng”. Và việc sử dụng AI hiệu quả, khai thác tối đa lợi ích trong khi giảm thiểu những “mặt tối” của AI, chính là cách thức hữu hiệu để bảo vệ tài sản và sự an tâm của người dùng.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▼50K 15,450 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▼50K 15,400 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,850 ▼150K 16,250 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,800 ▼150K 16,200 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,730 ▼150K 16,180 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,590 ▼100K 16,290 ▼100K
Trang sức 99.99 15,600 ▼100K 16,300 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1K 16,402 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1K 16,403 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 ▼10K 1,638 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 ▼10K 1,639 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 ▼10K 1,623 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 ▼990K 160,693 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 ▼750K 121,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 ▼680K 110,525 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 ▼610K 99,163 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 ▼77875K 9,478 ▼85885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 ▼417K 67,836 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cập nhật: 15/05/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18381 18657 19235
CAD 18636 18914 19531
CHF 32884 33269 33921
CNY 0 3837 3929
EUR 30060 30333 31360
GBP 34409 34801 35733
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15163 15750
SGD 20078 20361 20881
THB 726 789 843
USD (1,2) 26091 0 0
USD (5,10,20) 26133 0 0
USD (50,100) 26161 26181 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,260 30,284 31,569
JPY 162.13 162.42 171.36
GBP 34,703 34,797 35,819
AUD 18,680 18,747 19,356
CAD 18,871 18,932 19,528
CHF 33,234 33,337 34,148
SGD 20,252 20,315 21,007
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,436
KRW 16.24 16.94 18.34
THB 775.7 785.28 836.28
NZD 15,218 15,359 15,736
SEK - 2,760 2,843
DKK - 4,049 4,171
NOK - 2,796 2,886
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,260.74 - 7,041.42
TWD 755.27 - 910.37
SAR - 6,919.11 7,251.08
KWD - 83,912 88,833
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26387
AUD 18600 18700 19626
CAD 18832 18932 19946
CHF 33155 33185 34768
CNY 3818.6 3843.6 3979.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30256 30286 32011
GBP 34738 34788 36549
HKD 0 3355 0
JPY 162.8 163.3 173.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15305 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20247 20377 21106
THB 0 755.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,186 26,236 26,387
USD20 26,186 26,236 26,387
USD1 26,186 26,236 26,387
AUD 18,647 18,747 19,855
EUR 30,405 30,405 31,811
CAD 18,781 18,881 20,188
SGD 20,323 20,473 21,280
JPY 163.24 164.74 169.3
GBP 34,627 34,977 35,842
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 792 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80