Mặt bằng lãi suất cho vay kỳ vọng sẽ giảm nhẹ trong ngắn hạn

Thái Duy
Tiếp nối các ngân hàng trước đó, tuần qua 4 ngân hàng thương mại nhà nước đã công bố gói hỗ trợ lãi suất dành cho doanh nghiệp chịu tác động vì dịch Covid-19. Do vậy, mặt bằng lãi suất cho vay kỳ vọng sẽ giảm nhẹ trong ngắn hạn, trong khi lãi suất huy động sẽ không có nhiều biến động.
aa

giảm lãi suất cho vay

Nhiều ngân hàng đã công bố gói hỗ trợ lãi suất cho vay mới dành cho khách hàng và doanh nghiệp gặp khó khăn do tác động của dịch Covid-19.

Lãi suất đầu ra có thể giảm, nhưng đầu vào sẽ không thay đổi nhiều

Theo thông tin từ SSI Research, tuần qua, thị trường mở không phát sinh giao dịch mới và các hợp đồng bán ngoại tệ kỳ hạn tiếp tục được thực hiện giúp nguồn cung VND được cải thiện. Lãi suất liên ngân hàng tuần qua giảm nhẹ 6 - 7 điểm cơ bản, đóng cửa cuối tuần ở 0,90% cho kỳ hạn qua đêm và 1,04% cho kỳ hạn 1 tuần.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 7, tín dụng toàn hệ thống tăng 6,66% tính từ đầu năm và tăng 1,13% so với tháng 6 – đây là mức tăng tích cực trong bối cảnh dịch bệnh. Theo các chuyên gia, nhìn chung với các số liệu thống kê đã công bố, đợt bùng phát lần thứ 4 chưa có nhiều tác động mạnh tới tình hình kinh tế vĩ mô trong tháng 7 (ngoại trừ doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ). Tuy nhiên, khi việc giãn cách tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác tiếp tục kéo dài sang tháng 8 và nhiều khả năng sang tới tháng 9, nên các biện pháp tài khóa và tiền tệ được sử dụng nhằm hỗ trợ nền kinh tế.

Cụ thể trong tuần qua, Ngân hàng Nhà nước đã chuyển phương thức giao dịch của việc mua ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối từ mua kỳ hạn 6 tháng sang mua giao ngay và điều này được kỳ vọng sẽ cung cấp thanh khoản kịp thời cho hệ thống ngân hàng, trong bối cảnh nguồn cung ngoại tệ vẫn duy trì tích cực.

lãi suất huy động

Bên cạnh đó, ngoài các gói hỗ trợ cắt giảm lãi suất cho vay trước đó, trong tuần qua 4 ngân hàng thương mại nhà nước cũng đã công bố thêm gói hỗ trợ lãi suất trị giá 1.000 tỷ đồng mỗi ngân hàng dành cho các khách hàng và doanh nghiệp nằm trong các tỉnh, thành áp dụng Chỉ thị 16/CT-TTg. Nhờ vậy, các chuyên gia của SSI Research kỳ vọng, mặt bằng lãi suất cho vay sẽ giảm nhẹ trong ngắn hạn, trong khi đó, lãi suất huy động sẽ không có nhiều biến động.

Tỷ giá USD/VND giảm sâu, tiền VND dự báo có diễn biến tốt

Theo số liệu từ SSI Research, lạm phát trong tháng 7 của Mỹ được công bố với mức tăng 5,4% so với cùng kỳ và lạm phát cơ bản tăng 4,7% so với cùng kỳ. Mặc dù chỉ số CPI vẫn ở mức cao nhất trong vòng 13 năm qua, tuy nhiên dấu hiệu tăng chậm lại ở một số nhóm hàng đã xuất hiện trong tháng 7 và củng cố tâm lý nhà đầu tư trong đầu tuần.

Tuy nhiên, phiên giao dịch thứ 6 tiếp tục có biến động mạnh, khi chỉ số đo lường tâm lý tiêu dùng, được tính bởi Đại học Michigan (Mỹ) bất ngờ giảm mạnh về mức thấp nhất kể từ năm 2011. Giá vàng ngay lập tức bật tăng trở lại và kết tuần tăng 0,92%. Chỉ số Dollar-Index (DXY) dao dộng quanh mức 93 điểm trong đầu tuần và giảm mạnh về 92,5 điểm vào cuối tuần. Các đồng tiền chủ chốt đều tăng giá so với USD như JPY (+0,60%); EUR (+ 0,30%), CAD (+0,31%). Các đồng tiền ở khu vực châu Á đối mặt với sự bùng phát của dịch Covid-19 đều giảm giá so với USD như KRW (-2,35%); INR (-0,13%); PHP (-0,12%),...

diễn biến tỷ giá

Tại Việt Nam, việc Ngân hàng Nhà nước hạ 225 đồng/USD đối với tỷ giá mua vào ngoại tệ, xuống mức 22.750 đồng/USD và chuyển phương thức giao dịch từ mua kỳ hạn sang mua giao ngay đã khiến cho tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh.

Cụ thể, tỷ giá USD/VND niêm yết của các ngân hàng thương mại giảm 100 đồng/USD ở cả 2 chiều, xuống mức 22.700/22.930 đồng (mua vào/bán ra). Diễn biến trên thị trường tự do có chút khác biệt, một phần do chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế nới rộng lên gần 9 triệu đồng trong tuần qua – mức cao nhất kể từ tháng 3/2021. Theo đó, tỷ giá tự do giảm 30 đồng/USD ở chiều mua vào và tăng 20 đồng/USD chiều bán ra, giao dịch ở 23.125/23.235 đồng.

Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 1,2 tỷ USD trong tháng 7/2021, lũy kế nhập siêu 2,4 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2021 – kém thuận lợi hơn so với mức xuất siêu 8,7 tỷ USD của cùng kỳ 2020. Tuy nhiên theo các chuyên gia SSI Research, dòng vốn đầu tư FDI và kiều hối vẫn khả quan nên cung cầu ngoại tệ trong nước khá cân bằng. Nhìn chung, “VND được kỳ vọng sẽ tiếp tục là một đồng tiền có diễn biến tốt nhất trong khu vực, trong bối cảnh đồng USD được đánh giá sẽ mạnh lên về cuối năm” – chuyên gia SSI Research dự báo./.

Thái Duy

Thái Duy

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 21:00
Ngân hàng