Thị trường tiền tệ tuần 23-27/12:

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng nhích tăng

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (23 -27/12) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bơm lượng lớn thanh khoản cho hệ thống ngân hàng sau khi tỷ giá có dấu hiệu “hạ nhiệt”. Trong khi đó, giá vàng trong nước có tuần nhích tăng sau tuần giảm mạnh trước đó.
aa
Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, giá vàng giảm tuần thứ hai liên tiếp Ngân hàng Nhà nước can thiệp “hạ nhiệt” tỷ giá, giá vàng giảm mạnh

Ngân hàng Nhà nước bơm lượng lớn thanh khoản

Trong bối cảnh tỷ giá hạ nhiệt, NHNN đã chuyển sang trạng thái bơm ròng thanh khoản VND cho hệ thống ngân hàng, sau khi hút ròng mạnh vào tuần trước.

Cụ thể, trong phiên 23/12, NHNN chào thầu 20.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố giấy tờ có (OMO), kỳ hạn 14 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Kết quả, toàn bộ khối lượng này trúng thầu và có 1.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN cũng chào thầu tín phiếu ở kỳ hạn 07 ngày và có 2.800 tỷ đồng trúng thầu, 6.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Tính chung, NHNN bơm ròng 22.200 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở trong phiên 23/12.

Động thái bơm ròng của NHNN được cho là nhằm hỗ nhu cầu thanh khoản thị trường trong giai đoạn cao điểm thanh toán cuối năm, đây là xu hướng thường thấy tại thời điểm này trong các năm trước. Tuy vậy, áp lực tỷ giá được đánh giá sẽ là yếu tố khiến NHNN phải cân nhắc để sử dụng nghiệp vụ thị trường mở với khối lượng vừa đủ nhằm duy trì trạng thái thanh khoản ở mức hợp lý để có sự cân bằng giữa lãi suất VND và USD.

Đến phiên 24/12, NHNN chào thầu 15.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố giấy tờ có giá (OMO), kỳ hạn 14 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Kết quả, có 14.999,99 tỷ đồng trúng thầu và có 999,93 tỷ đồng đáo hạn. NHNN cũng tiếp tục chào thầu tín phiếu NHNN ở kỳ hạn 7 ngày và có 3.650 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 4,0%, trong khi có 1.150 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Tính chung, NHNN bơm ròng 11.500 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở trong phiên 24/12.

Tiếp đó, trong ngày 25/12, NHNN chào thầu 15.000 tỷ đồng, kỳ hạn 14 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có 14.999,99 tỷ đồng trúng thầu; có 1.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở kỳ hạn 7 ngày, đấu thầu lãi suất. Không có khối lượng trúng thầu. Có 1.750 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 15.749,99 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở trong phiên 25/12.

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng nhích tăng
NHNN đã chuyển sang trạng thái bơm ròng thanh khoản VND cho hệ thống ngân hàng. Ảnh: T.L

Ngày 26/12 trên kênh cầm cố, NHNN chào thầu 15.000 tỷ đồng, kỳ hạn 14 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có 14.999,93 tỷ đồng trúng thầu; có 1.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở kỳ hạn 7 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 7.500 tỷ đồng trúng thầu. Có 14.150 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 20.649,93 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở trong phiên ngày 26/12.

Như vậy, NHNN đã bơm ròng tổng cộng 70.098 tỷ đồng cho hệ thống ngân hàng kể từ đầu tuần này. Đảo ngược lại phần nào mức hút ròng gần 71.500 tỷ đồng trong tuần trước.

Thực tế, dù đã hạ nhiệt nhưng USD Index – thước đo sức mạnh đồng bạc xanh – hiện vẫn duy trì ở vùng cao nhất trong hơn 2 năm qua. Trong nước, tỷ giá liên ngân hàng vẫn dao động quanh vùng giá bán can thiệp của NHNN, còn tỷ giá USD niêm yết tại các ngân hàng vẫn tiếp tục được đưa lên kịch trần cho phép. Những yếu tố này sẽ khiến Nhà điều hành khó có thể mạnh tay bơm ròng thanh khoản VNĐ cho hệ thống ngân hàng.

Việc sử dụng song song hai công cụ tín phiếu và OMO nhằm phục vụ mục tiêu kép là vừa đảm bảo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, vừa giảm sức ép lên tỷ giá thông qua việc thu hẹp chênh lệch lãi suất USD - VND trên thị trường liên ngân hàng. Bên cạnh đó, NHNN vẫn sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp khi cần thiết nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ.

Giá vàng nhích tăng, giá bán USD tiếp tục neo ở mức cao

Thị trường kim loại quý trong tuần này nhích tăng trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 27/12/2024, giá vàng thế giới giao ngay dừng tại mốc 2.633,46 USD/ounce, tăng 49,47 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank vàng thế giới có giá khoảng 80,090 triệu đồng/lượng. Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.676 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 81,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Cũng có diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tuần qua cũng đã nhích tăng, giá vàng trong nước tiến lên mốc 84,7 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 27/12 giữ ở mức 84,7 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 83,1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng 900 nghìn đồng đến 1,1 triệu đồng/lượng so với tuần trước đó.

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng nhích tăng
Giá vàng trong nước tuần qua cũng đã nhích tăng. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng và tiến tới mốc hơn 84,5 triệu đồng/lượng. Thời điểm 16 giờ chiều ngày 27/12, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 84,3 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 83,3 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 83,3 – 84,8 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 83,1 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 84,7 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 800 nghìn đồng -1,2 triệu đồng/lượng.

Theo Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), nhu cầu vàng từ các ngân hàng trung ương đã đạt mức cao nhất trong hơn một thập kỷ. Điều này củng cố vị trí của vàng như một tài sản trú ẩn an toàn, đặc biệt trong bối cảnh các yếu tố địa chính trị và kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn. Ngoài ra, việc các ngân hàng trung ương áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng, giảm tốc độ tăng lãi suất cũng hỗ trợ tích cực cho giá vàng.

Trong khi đó, tỷ giá tuần qua đã cho thấy dấu hiệu “hạ nhiệt”. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 23/12 ghi nhận ở mức 24.324 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá vào hôm thứ Ba và hôm thứ Tư sau đó điều chỉnh tăng tỷ giá hôm thứ Năm và giảm vào các ngày thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.310 đồng/USD, giảm 14 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng giảm nhưng vẫn neo ở mức cao. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.540 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh giảm vào những ngày đầu tuần và điều chỉnh tăng vào hôm thứ Năm sau đó giảm vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.520 đồng/USD, giảm 20 đồng/USD so với hôm đầu tuần, vẫn cao hơn mức đỉnh thiết lập ngày 15/11 (25.512 VND/USD)./.

Chỉ số DXY có xu hướng đi ngang

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng đi ngang nhưng vẫn neo ở mức cao. Tại thời điểm chiều ngày 27/12, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 108,08 điểm, tương đương so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,400 142,400
Hà Nội - PNJ 139,400 142,400
Đà Nẵng - PNJ 139,400 142,400
Miền Tây - PNJ 139,400 142,400
Tây Nguyên - PNJ 139,400 142,400
Đông Nam Bộ - PNJ 139,400 142,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 14,240
Miếng SJC Nghệ An 13,940 14,240
Miếng SJC Thái Bình 13,940 14,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,890 14,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,890 14,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,890 14,290
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 14,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 14,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,389 1,419
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,389 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,364 1,409
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,505 139,505
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,036 105,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,172 95,972
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,308 86,108
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,503 82,303
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,111 58,911
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Cập nhật: 29/09/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17679 17952 18531
CAD 17806 18080 18699
CHF 30592 30968 31610
CNY 0 3828 3924
EUR 28909 29127 30208
GBP 33627 34015 34953
HKD 0 3180 3383
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14388 14976
SGD 19779 20061 20631
THB 689 752 805
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,775 25,775 26,155
USD(1-2-5) 24,744 - -
USD(10-20) 24,744 - -
EUR 28,958 28,981 30,354
JPY 161.06 161.35 171.13
GBP 33,832 33,924 35,098
AUD 17,879 17,944 18,631
CAD 17,993 18,051 18,718
CHF 30,848 30,944 31,860
SGD 19,890 19,952 20,736
CNY - 3,794 3,939
HKD 3,243 3,253 3,389
KRW 17.6 18.35 19.97
THB 736.97 746.07 798.37
NZD 14,375 14,508 14,947
SEK - 2,563 2,655
DKK - 3,884 4,022
NOK - 2,680 2,775
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.52 - 6,704.16
TWD 737.02 - 892.94
SAR - 6,798.21 7,161.14
KWD - 82,097 87,360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,026 29,143 30,351
GBP 33,769 33,905 34,924
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,786 30,910 31,841
JPY 160.68 161.33 169.31
AUD 17,884 17,956 18,548
SGD 19,966 20,046 20,637
THB 757 760 797
CAD 18,022 18,094 18,682
NZD 14,458 14,997
KRW 18.31 20.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26150
AUD 17863 17963 18889
CAD 17986 18086 19102
CHF 30834 30864 32445
CNY 3810.1 3835.1 3970.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29087 29117 30842
GBP 33925 33975 35745
HKD 0 3315 0
JPY 161.9 162.4 172.91
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19934 20064 20787
THB 0 717.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 13000000 13000000 14350000
Cập nhật: 29/09/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30