Thị trường tiền tệ tuần 16-20/12:

Ngân hàng Nhà nước can thiệp “hạ nhiệt” tỷ giá, giá vàng giảm mạnh

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (16 -20/12) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hút ròng trên thị trường mở. Trong khi đó, tỷ giá trong nước tuần qua tăng mạnh trước áp lực chỉ số DXY tăng nhanh còn giá vàng trong nước có tuần giảm sau tuần tăng mạnh trước đó.
aa
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nới 'room' tín dụng, giá vàng và tỷ giá cùng giảm Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, giá vàng giảm tuần thứ hai liên tiếp

Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở

Chính sách tiền tệ của các quốc gia lớn, đặc biệt là Mỹ, đóng vai trò quan trọng trong diễn biến tỷ giá USD/VND. Tuần qua, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định cắt giảm lãi suất. Tuy nhiên, Fed dự báo sẽ chỉ cắt giảm thêm hai lần trong năm 2025, khiến kỳ vọng về lãi suất cao kéo dài tiếp tục thúc đẩy giá trị đồng USD trên thị trường quốc tế.

Ngày 18/12/2024, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định cắt giảm lãi suất điều hành xuống còn 4,25%-4,50%, thấp hơn mức 4,50%-4,75% trước đó.

Chỉ số DXY tăng 6,77% trong quý IV/2024, khiến lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng thêm 11 điểm cơ bản, đạt mức 4,52%. Chỉ số DXY tăng từ mức 102 điểm vào đầu năm lên 108,03 điểm ngày 18/12/2024, ghi nhận mức tăng 5,71% so với đầu năm. Điều này làm gia tăng sức ép lên các đồng tiền tại thị trường mới nổi, bao gồm VND.

Trong bối cảnh trên, nhiều ngân hàng thương mại tiết lộ đã mua USD tại Ngân hàng Nhà nước từ ngày 18/12. Hồi cuối tháng 10, Ngân hàng Nhà nước tăng giá bán USD can thiệp, niêm yết tại Sở Giao dịch ở mức 25.450 VNĐ/USD. Ngân hàng Nhà nước thông báo tới các ngân hàng về việc nối lại hoạt động bán ngoại tệ can thiệp ngoại tệ theo hình thức giao ngay.

Ngân hàng Nhà nước can thiệp “hạ nhiệt” tỷ giá, giá vàng giảm mạnh
NHNN cũng phát hành tín phiếu nhằm hút ròng thanh khoản, kiểm soát dòng tiền trong hệ thống ngân hàng. Ảnh: T.L

Bên cạnh đó, NHNN cũng phát hành tín phiếu nhằm hút ròng thanh khoản, kiểm soát dòng tiền trong hệ thống ngân hàng. Ngày 18/12, NHNN phát hành tín phiếu kỳ hạn 14 và 28 ngày với tổng giá trị 6.850 tỷ đồng, lãi suất 4,0%. Tổng giá trị tín phiếu lưu hành hiện đạt 76.635 tỷ đồng, góp phần làm giảm áp lực thanh khoản trên thị trường. NHNN hút ròng 24.799,93 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở.

Tiếp đó, ngày 19/12, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 07 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có 1.000 tỷ đồng trúng thầu; có 20.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở 2 kỳ hạn 07 ngày và 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 10.000 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 07 ngày và 3.700 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 14 ngày, đều với lãi suất 4,0%. Có 7.025 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN hút ròng 25.675 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất chào bình quân VND giảm ở hầu hết các kỳ hạn ngắn. Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm 0,53 điểm phần trăm xuống 2,80%, lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm 0,36 điểm phần trăm xuống 3,68%. Lãi suất USD, ngược lại, tăng nhẹ ở kỳ hạn qua đêm, đạt 4,62%, trong khi các kỳ hạn dài hơn giữ ổn định hoặc giảm nhẹ.

NHNN đã và đang phối hợp triển khai đồng bộ các công cụ để kiềm chế đà tăng của tỷ giá. Việc sử dụng song song hai công cụ tín phiếu và OMO nhằm phục vụ mục tiêu kép là vừa đảm bảo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, vừa giảm sức ép lên tỷ giá thông qua việc thu hẹp chênh lệch lãi suất USD - VND trên thị trường liên ngân hàng.

Tại phiên chất vấn trước Quốc hội vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng thừa nhận thị trường tiền tệ quốc tế diễn biến phức tạp. Đồng USD biến động phức tạp, khi có thời điểm giảm mạnh, từ quý III lại tăng và hiện biến động ở mức cao.

Theo Thống đốc NHNN, những diễn biến này đã tác động tới thị trường ngoại hối trong nước. Việc ổn định tỷ giá, ngoại hối là khó khăn do phụ thuộc cung cầu thực trên thị trường, tức lượng ngoại tệ chi ra kinh tế và nguồn thu có được. Khi thị trường biến động quá lớn, Ngân hàng Nhà nước sẽ cân nhắc bán ngoại tệ để ổn định, đáp ứng nhu cầu người dân.

Giá vàng giảm, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới

Thị trường kim loại quý trong tuần này biến động giảm sâu trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 20/12/2024, giá vàng thế giới giao ngay dừng tại mốc 2.593,99 USD/ounce, giảm 86 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank vàng thế giới có giá là 78,871 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.707 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 80,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Ngân hàng Nhà nước can thiệp “hạ nhiệt” tỷ giá, giá vàng giảm mạnh
Giá vàng giảm mạnh so với 1 tuần trước đó. Ảnh: T.L

Cũng có diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tuần qua đã có những phiên giảm mạnh khiến giá vàng trong nước về mốc 83,8 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 20/12 giữ ở mức 83,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 82 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, giảm mạnh hơn 3,3 triệu đồng/lượng so với tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng giảm mạnh và về dưới 84 triệu đồng/lượng. Thời điểm 16 giờ chiều ngày 20/12, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 83,5 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 82,5 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 82,6 – 83,9 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 82,4 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 83,8 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 1,4 -1,6 triệu đồng/lượng.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân trực tiếp khiến giá vàng thế giới hạ chính là đồng USD tăng giá, tâm lý lạc quan về triển vọng kinh tế Mỹ dưới thời kỳ chính quyền của ông Donald Trump nhiệm kỳ 2, đồng thời tâm lý thị trường thay đổi sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ.

Theo chuyên gia Trần Duy Phương giá vàng thế giới còn khả năng suy giảm thêm 70-80 USD nữa, về khoảng 2.550 USD/ounce, thì mới kết thúc việc điều chỉnh này. Đến năm 2025, nhiều khả năng vàng sẽ tiếp tục tỏa sáng. Giá vàng có thể tăng trở lại lên mốc 2.800 USD, 2.900 USD/ounce trong năm nay, nhưng khó có thể chạm tới mốc 3.000 USD/ounce.

Trong khi đó, tỷ giá tuần qua tăng mạnh trước áp lực tăng giá của USD. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 16/12 ghi nhận ở mức 24.264 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá vào hôm thứ Ba sau đó điểu chỉnh giảm tỷ giá hôm thứ Tư và tăng vào các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.304 đồng/USD, tăng 40 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng tăng mạnh. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.477 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh giảm vào hôm thứ Tư còn điều chỉnh tăng vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.519 đồng/USD, tăng 42 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Theo đó tỷ giá USD/VND tại ngân hàng đã vượt mức đỉnh thiết lập ngày 15/11 (25.512 VND/USD).

Chỉ số DXY có xu hướng tăng mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng tăng mạnh vào cuối tuần. Tại thời điểm chiều ngày 20/12, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 108,18 điểm, tăng hơn 1 điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

VietABank sắp phát hành cổ phiếu tỷ lệ 15% đợt 1, khởi động kế hoạch tăng vốn mạnh

VietABank sắp phát hành cổ phiếu tỷ lệ 15% đợt 1, khởi động kế hoạch tăng vốn mạnh

(TBTCO) - VietABank dự kiến phát hành hơn 122 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 15% nhằm tăng vốn điều lệ lên gần 9.388 tỷ đồng. Đợt phát hành dự kiến triển khai trong quý II - III/2026. Đây là đợt tăng vốn đầu tiên trong kế hoạch nâng vốn điều lệ thêm khoảng 55%, cao nhất lịch sử hoạt động của ngân hàng này.
MIC 360: Đột phá giải pháp bảo hiểm “quốc dân”, bảo vệ toàn diện hộ kinh doanh và gia đình Việt

MIC 360: Đột phá giải pháp bảo hiểm “quốc dân”, bảo vệ toàn diện hộ kinh doanh và gia đình Việt

(TBTCO) - Trong bối cảnh rủi ro thiên tai và biến cố sức khỏe ngày càng phức tạp, Bảo hiểm Quân đội (MIC) chính thức ra mắt bộ sản phẩm MIC 360. Với mức phí chỉ từ 100.000 đồng/năm cùng quy trình bồi thường online “không hóa đơn”, sản phẩm được kỳ vọng sẽ thay đổi định kiến về bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam.
Sun Life Việt Nam ra mắt Bảo hiểm hưu trí Sun Life, giúp doanh nghiệp kiến tạo phúc lợi dài hạn trong cuộc đua giữ chân nhân tài

Sun Life Việt Nam ra mắt Bảo hiểm hưu trí Sun Life, giúp doanh nghiệp kiến tạo phúc lợi dài hạn trong cuộc đua giữ chân nhân tài

(TBTCO) - Với nhiều năm kinh nghiệm trong việc cung cấp các giải pháp hưu trí trên thị trường, Sun Life Việt Nam tiếp tục cho ra mắt sản phẩm Bảo hiểm hưu trí Sun Life - giải pháp phúc lợi hưu trí mới với nhiều quyền lợi được cải tiến nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng chính sách phúc lợi dài hạn của doanh nghiệp. Sản phẩm còn hỗ trợ người lao động chủ động bảo vệ rủi ro trong thời gian làm việc, đồng thời tích lũy tài chính vững vàng cho giai đoạn nghỉ hưu.
Hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm

Hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm

(TBTCO) - Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 928/QĐ-TTg ngày 25/5/2026, với mục tiêu hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm, góp phần nâng cao đời sống của người dân, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Rox Living “đảo chiều” giao dịch tại MSB, dự chi nghìn tỷ đồng gom thêm 100 triệu cổ phiếu

Rox Living “đảo chiều” giao dịch tại MSB, dự chi nghìn tỷ đồng gom thêm 100 triệu cổ phiếu

(TBTCO) - Công ty cổ phần Rox Living không bán ra cổ phiếu MSB nào trong hơn 31,15 triệu cổ phiếu đã đăng ký trước đó, đồng thời tiếp tục đăng ký mua thêm 100 triệu cổ phiếu MSB nhằm nâng tỷ lệ sở hữu lên hơn 4,2% vốn điều lệ tại Ngân hàng MSB. Hiện MSB có nhiều cổ đông tổ chức lớn nắm giữ từ 2 - 6% vốn điều lệ.
Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

(TBTCO) - Nhóm phân tích của VPBankS cho rằng, tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) sử dụng thay thế cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn là chỉ tiêu đánh giá toàn diện và nhạy cảm với rủi ro hơn, đồng thời khuyến khích các ngân hàng từng bước kéo dài kỳ hạn huy động, tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn.
Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

(TBTCO) - Ngày 25/5/2026, Công ty cổ phần Vinhomes chính thức triển khai chương trình hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản, góp phần đưa nguồn vàng nhàn rỗi đang tích trữ trong dân trở thành dòng vốn năng động phục vụ tăng trưởng. Chương trình được triển khai trong 5 năm, với sự đồng hành của các công ty vàng bạc đá quý nhằm bảo đảm an toàn tối đa về quyền lợi và giá trị tài sản cho khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 16,150
Kim TT/AVPL 15,850 16,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 16,150
Nguyên Liệu 99.99 14,850 15,050
Nguyên Liệu 99.9 14,800 15,000
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 16,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 15,950
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 15,930
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 161,500
Hà Nội - PNJ 158,500 161,500
Đà Nẵng - PNJ 158,500 161,500
Miền Tây - PNJ 158,500 161,500
Tây Nguyên - PNJ 158,500 161,500
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 161,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 16,150
Miếng SJC Nghệ An 15,850 16,150
Miếng SJC Thái Bình 15,850 16,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 16,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 16,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 16,150
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,340 16,040
Trang sức 99.99 15,350 16,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 16,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 16,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 161
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 1,611
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 1,595
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 157,921
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 119,787
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 108,621
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 97,455
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 93,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 66,668
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Cập nhật: 27/05/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18335 18611 19184
CAD 18554 18831 19447
CHF 32936 33321 33961
CNY 0 3842 3934
EUR 30037 30310 31335
GBP 34712 35105 36031
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15086 15671
SGD 20071 20354 20882
THB 722 785 839
USD (1,2) 26079 0 0
USD (5,10,20) 26120 0 0
USD (50,100) 26148 26163 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,164 26,164 26,394
USD(1-2-5) 25,118 - -
USD(10-20) 25,118 - -
EUR 30,223 30,247 31,506
JPY 161.52 161.81 170.6
GBP 34,965 35,060 36,073
AUD 18,580 18,647 19,241
CAD 18,773 18,833 19,415
CHF 33,263 33,366 34,144
SGD 20,256 20,319 20,998
CNY - 3,821 3,944
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.21 16.9 18.27
THB 773.13 782.68 833.14
NZD 15,120 15,260 15,624
SEK - 2,791 2,872
DKK - 4,044 4,163
NOK - 2,798 2,885
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,226.83 - 6,990.8
TWD 757.96 - 912.92
SAR - 6,922.12 7,248.72
KWD - 83,835 88,684
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,144 26,164 26,394
EUR 30,109 30,230 31,409
GBP 34,938 35,078 36,087
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,062 33,195 34,131
JPY 161.90 162.55 169.87
AUD 18,546 18,620 19,210
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 790 793 828
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,196 15,729
KRW 16.75 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26190 26190 26394
AUD 18518 18618 19541
CAD 18735 18835 19849
CHF 33185 33215 34794
CNY 3822 3847 3982.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30211 30241 31966
GBP 34997 35047 36818
HKD 0 3355 0
JPY 161.96 162.46 173
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15194 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20228 20358 21086
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15850000 15850000 16150000
SBJ 14000000 14000000 16150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,178 26,228 26,394
USD20 26,178 26,228 26,394
USD1 26,178 26,228 26,394
AUD 18,565 18,665 19,775
EUR 30,348 30,348 31,754
CAD 18,676 18,776 20,081
SGD 20,312 20,462 21,027
JPY 162.51 164.01 170
GBP 34,885 35,235 36,097
XAU 15,848,000 0 16,152,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/05/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80