Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/11:

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nới 'room' tín dụng, giá vàng và tỷ giá cùng giảm

Mai Tấn
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thông báo điều chỉnh tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 đối với các tổ chức tín dụng (TCTD). Việc nới room tín dụng lần này theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch và là sự chủ động của NHNN mà các TCTD không cần phải đề nghị. Trong khi đó, giá vàng và tỷ giá cùng ghi nhận diễn biến giảm.
aa
Tín dụng tăng tốc để “cán đích”, giá vàng “tuột dốc” không phanh Ngân hàng Nhà nước linh hoạt điều hành thị trường mở, giá vàng tăng vọt

Ngân hàng Nhà nước nới 'room' tín dụng lần thứ 2 trong năm

Mới đây, NHNN đã thông báo điều chỉnh tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 đối với các TCTD theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch. Việc bổ sung hạn mức này là sự chủ động của NHNN mà các TCTD không cần phải đề nghị. Mặc dù đưa thông báo nới room nhưng các điều kiện quyết định mức nới với các ngân hàng không được công bố chi tiết.

Tính đến ngày 22/11/2024, tín dụng toàn hệ thống tăng 11,12% so với cuối năm 2023. Trước đó con số này vào cuối tháng 10 là 10,08%.

Đây không phải lần đầu NHNN đưa ra chính sách nới room chủ động. Vào đầu năm 2024, NHNN đã giao toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các TCTD 15% đề ra tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 15/1/2024. Đến ngày 28/8, NHNN cho biết sẽ chủ động nới room cho các TCTD có tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2024 đạt từ 80% chỉ tiêu Ngân hàng Nhà nước đã thông báo đầu năm 2024 dựa trên cơ sở điểm xếp hạng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nới 'room' tín dụng, giá vàng và tỷ giá cùng giảm
Ngân hàng Nhà nước nới 'room' tín dụng, yêu cầu giữ ổn định lãi vay. Ảnh: T.L

Việc nới room đưa ra trong bối cảnh lạm phát được kiểm soát tốt dưới mức mục tiêu Quốc hội, Chính phủ đề ra và thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về điều hành tăng trưởng tín dụng linh hoạt, hiệu quả, kịp thời đáp ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh việc nới room tín dụng, NHNN yêu cầu các TCTD thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Lãnh đạo Chính phủ và NHNN, quyết liệt tổ chức thực hiện các giải pháp về hoạt động tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định thị trường tiền tệ.

Đồng thời, phải tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Tiếp tục có chính sách tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng đối với doanh nghiệp, người dân.

Ngoài ra, các TCTD phải tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi và nỗ lực hơn nữa để giảm mặt bằng lãi suất cho vay thông qua tiết giảm chi phí, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.

Trong thời gian tới, NHNN tiếp tục bám sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản tạo điều kiện cho các TCTD cung ứng tín dụng cho nền kinh tế và kịp thời có giải pháp điều hành chính sách tiền tệ phù hợp.

Theo số liệu cập nhật của NHNN, mặt bằng lãi suất giảm khoảng 2,5% trong năm 2023 và tiếp tục có xu hướng giảm trong 10 tháng đầu năm 2024. Trong đó, lãi suất cho vay bình quân năm 2023 giảm hơn 2,5%/năm so với cuối năm 2022; đến ngày 20/10/2024 tiếp tục giảm 0,76%/năm so với cuối năm 2023.

Giá vàng và tỷ giá cùng giảm

Thị trường kim loại quý trong tuần này biến động liên tục với những phiên tăng giảm đan xen. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 29/11/2024, giá vàng thế giới dừng tại mốc 2.637,6 USD/ounce, giảm 32,11 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, giá vàng thế giới có giá khoảng 80,057 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.648 VNĐ), vàng thế giới có giá khoảng 81,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Cùng chiều với giá vàng thế giới, giá vàng trong nước cũng có tuần biến động giảm về mốc 85 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 29/11 giữ ở mức 85,4 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 82,9 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, giảm 1,3 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nới 'room' tín dụng, giá vàng và tỷ giá cùng giảm
Giá vàng miếng SJC và vàng nhẫn có tuần giảm. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng giảm về mức 84,6 triệu đồng/lượng. Thời điểm đầu giờ chiều ngày 29/11, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 84,8 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 83,8 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 83,6 – 84,9 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 83,6 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 84,78 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 1,3-1,5 triệu đồng/lượng.

Theo các chuyên gia, giá vàng suy giảm cho thấy, nhu cầu đầu tư an toàn giảm đi, khi đó những kênh đầu tư khác như chứng khoán, bất động sản… sẽ được hưởng lợi nhiều hơn. Dòng tiền sẽ đổ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều hơn… và cả tiền gửi tiết kiệm cũng trong nhóm an toàn vốn đang có tỷ trọng tiền gửi rất cao cũng có thể chảy sang các kênh chứng khoán tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn hay đổ vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Xu hướng đó sẽ giúp thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cũng như góp phần giảm áp lực lên chính sách, giúp chính sách có thể linh hoạt hơn và tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế tốt hơn.

Trong khi đó, tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 25/11 ghi nhận ở mức 24.295 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá vào hôm thứ Ba sau đó tăng nhẹ vào hôm thứ Tư, giữ nguyên vào ngày thứ Năm và giảm mạnh vào ngày thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.271 đồng/USD, giảm 25 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng chỉ nhích tăng nhẹ. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.509 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục điều chỉnh tăng giảm đan xen vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.484 đồng/USD, giảm 25 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tỷ giá USD/VND trong nước đồng loạt hạ nhiệt trong bối cảnh chỉ số USD Index (DXY) đã giảm xuống mức dưới 106 điểm và chính thức rời đỉnh 2 năm. Các chuyên gia kỳ vọng, tỷ giá có thể dần hạ nhiệt trở lại khi bước sang tháng 12 nhờ nguồn cung ngoại tệ về thị trường dồi dào hơn từ kiều hối và hoạt động xuất khẩu./.

Chỉ số DXY có xu hướng giảm

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu giảm mạnh trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 29/11 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 105,65 điểm, giảm mạnh so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 14,850
Miếng SJC Nghệ An 14,550 14,850
Miếng SJC Thái Bình 14,550 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,750
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 14,640
Trang sức 99.99 13,950 14,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 14,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 14,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 148
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 1,481
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 146
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 144,554
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 109,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 9,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 89,219
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 85,277
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 61,038
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cập nhật: 16/07/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17798 18072 18648
CAD 18132 18407 19024
CHF 31728 32109 32754
CNY 0 3834 3927
EUR 29336 29556 30639
GBP 34370 34761 35694
HKD 0 3218 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15554
SGD 19773 20054 20635
THB 696 759 812
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26440
AUD 17992 18092 19015
CAD 18324 18424 19438
CHF 31983 32013 33591
CNY 3815.1 3840.1 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29532 29562 31287
GBP 34659 34709 36467
HKD 0 3355 0
JPY 158.2 158.7 169.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15076 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19940 20070 20798
THB 0 725.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80