Thị trường tiền tệ tuần 2-6/12:

Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, giá vàng giảm tuần thứ hai liên tiếp

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (2 -6/12) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hút ròng trên thị trường mở. Trong khi đó, tỷ giá có dấu hiệu nhích tăng trở lại còn giá vàng trong nước có tuần giảm thứ hai liên tiếp nhưng vẫn neo ở mức cao.
aa
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nới room tín dụng cho các ngân hàng Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nới 'room' tín dụng, giá vàng và tỷ giá cùng giảm

Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh cường độ hút ròng

Sau khi liên tục hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng trong tháng 11, NHNN đã chuyển sang trạng thái hút ròng trong những phiên gần đây. Cụ thể, trong phiên giao dịch 3/12, NHNN chào thầu 10.000 tỷ đồng trên kênh cho vay cầm cố giấy tờ có giá (OMO) với kỳ hạn 7 ngày và lãi suất ở mức 4,0%. Kết quả, toàn bộ 10.000 tỷ đồng trúng thầu, trong khi có 20.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh này.

Trên kênh tín phiếu, NHNN chào thầu ở hai kỳ hạn 14 ngày và 28 ngày, đấu thầu lãi suất. Kết quả có 1.300 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 14 ngày, lãi suất ở mức 3,95% và 3.500 tỷ đồng tín phiếu trúng thầu ở kỳ hạn 28 ngày, lãi suất 4,0%. Trong khi đó, có 600 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Tính chung, NHNN đã hút ròng 14.200 tỷ đồng từ thị trường thông qua kênh thị trường mở trong phiên 3/12. Trước đó, Nhà điều hành cũng đã hút ròng lần lượt gần 11.200 tỷ đồng và 28.480 tỷ đồng trong phiên giao dịch 2/12 và 29/11.

Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, giá vàng giảm tuần thứ hai liên tiếp
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hút ròng trên thị trường mở. Ảnh: T.L
Theo số liệu được NHNN công bố, lãi suất VND bình quân liên ngân hàng tại kỳ hạn qua đêm trong phiên 4/12 đã giảm về còn 4,15 %/năm. So với mức trên 6%/năm ghi nhận hồi đầu tháng 11, lãi suất qua đêm liên ngân hàng đã giảm mạnh. Cùng với kỳ hạn qua đêm, lãi suất hầu hết kỳ hạn chủ chốt khác đều giảm mạnh so với hồi đầu tháng 11.

Tiếp đó trong phiên ngày 4/12, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có 1.000 tỷ đồng trúng thầu. Có 3.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh này. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở 2 kỳ hạn 14 ngày và 28 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 5.325 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 14 ngày, lãi suất ở mức 4,0%; có 3.800 tỷ đồng tín phiếu trúng thầu ở kỳ hạn 28 ngày, lãi suất 4,0%. Có 900 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN hút ròng 10.225 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở.

NHNN giảm dần lượng thanh khoản hỗ trợ hệ thống trong bối cảnh lãi suất liên VND trên thị trường ngân hàng đã giảm mạnh những phiên gần đây.

Hiện, NHNN đã và đang phối hợp triển khai đồng bộ các công cụ để kiềm chế đà tăng của tỷ giá. Biện pháp đầu tiên được NHNN sử dụng là việc duy trì kênh phát hành tín phiếu trong suốt 1,5 tháng qua. Với các ngân hàng cần nguồn hỗ trợ, NHNN vẫn sẵn sàng cho vay qua kênh OMO với mức lãi suất 4%/năm.

Việc sử dụng song song hai công cụ tín phiếu và OMO nhằm phục vụ mục tiêu kép là vừa đảm bảo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, vừa giảm sức ép lên tỷ giá thông qua việc thu hẹp chênh lệch lãi suất USD - VND trên thị trường liên ngân hàng.

Giá vàng giảm tuần thứ hai, tỷ giá nhích tăng nhẹ

Thị trường kim loại quý trong tuần này biến động trong biên độ hẹp với những phiên tăng giảm đan xen. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 6/12/2024, giá vàng thế giới dừng tại mốc 2.632,03 USD/ounce, giảm nhẹ khoảng 4 USD /ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 79,891 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.631 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 81,3 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Cũng có diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước biến động giảm nhẹ và vẫn giữ ở mốc 85 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 6/12 giữ ở mức 85,2 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 82,7 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, giảm 200 nghìn đồng/lượng so với tuần trước đó.

Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, giá vàng giảm tuần thứ hai liên tiếp
Giá vàng giảm tuần thứ hai liên tiếp. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng chỉ giảm nhẹ và giữ ở mức 84 triệu đồng/lượng. Thời điểm 16 giờ chiều ngày 6/12, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 84 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 83 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 82,8 - 84,1 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 82,98 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 84,08 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 600-800 nghìn đồng/lượng.

Theo các chuyên gia, vàng có thể thử nghiệm mức hỗ trợ 2.550 USD/ounce và mức kháng cự 2.700 USD/ounce trong tháng 12/2024. Xu hướng trong vài tuần tới có thể là giảm do hoạt động chốt lời vì đà tăng giá mạnh trong năm nay. Vàng, kênh đầu tư an toàn, đã tăng hơn 27% trong năm nay, sau khi đạt mức cao kỷ lục nhiều lần nhờ việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nới lỏng lãi suất và căng thẳng địa chính trị leo thang.

Trong khi đó, tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 2/12 ghi nhận ở mức 24.251 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá vào hôm thứ Ba sau đó tăng nhẹ vào các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.266 đồng/USD, tăng 15 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng nhích tăng nhẹ. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.463 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục điều chỉnh tăng vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.479 đồng/USD, tăng 16 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Dự báo về diễn biến của tỷ giá trong năm 2025, Công ty chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, áp lực đối với điều hành tỷ giá năm 2025 ngoài việc chịu ảnh hưởng của đồng USD tiếp tục duy trì sức mạnh thì diễn biến mang tính thời điểm còn phụ thuộc nhiều vào tính mùa vụ của cung - cầu ngoại tệ. Do đó, trong kịch bản cơ sở, tỷ giá USD/VND trong năm sau có thể biến động trong biên độ +/-5%.

Công ty Chứng khoán HSC (HSC) dự báo, NHNN sẽ điều chỉnh tăng lãi suất điều hành lên 4,75% vào cuối năm 2025 và 5% vào cuối năm 2026. Động thái này nhằm đối phó với xu hướng mất giá của đồng VND. Liên quan đến áp lực tỷ giá, HSC đã nâng dự báo tỷ giá USD/VND lên các mức 25.450 đồng, 26.000 đồng và 26.000 đồng cho các thời điểm cuối năm 2024, 2025 và 2026./.

Chỉ số DXY có xu hướng đi ngang

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu hướng đi ngang trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 6/12 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 105,8 điểm, tương đương so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 29/03/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/03/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80