Nợ công phải được tính theo quy định của pháp luật

Hoàng Yến
(TBTCVN) - “Nợ công chính thức của Việt Nam đã được tính toán đúng theo quy định tại Luật Quản lý nợ công (QLNC). Việc tính dự phòng nợ bất khả kháng trong nước vào mức nợ công không phải là thông lệ quốc tế phổ biến, không phản ánh đúng bản chất của nợ công là nợ thực tế phát sinh.
aa

Ảnh Tiền

Để đưa thêm các tiêu chí đánh giá nợ công cần nghiên cứu kỹ lưỡng và tính toán mức độ khả thi”. Đây là quan điểm của PGS.TS Lê Xuân Trường (Học viện Tài chính) trong cuộc trao đổi với PV TBTCVN về chủ đề cách tính toán mức độ an toàn của nợ công tại Việt Nam.


Ông Lê Xuân Trường
Ông Lê Xuân Trường

PV: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về con số nợ công lên đến 66,4% do Học viện Chính sách Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tính toán? Việc tính thêm chi phí dự phòng nợ bất khả kháng trong nước có phải là thông lệ quốc tế phổ biến hay không?

- PGS.TS Lê Xuân Trường: Xét về thực tiễn Việt Nam, con số nợ công lên đến 66,4% GDP do Học viện Chính sách Phát triển nêu ra được báo chí đăng tải lại là con số được tính toán không theo quy định của Luật QLNC, vì nó đã bao gồm thêm các khoản không tính là nợ công theo Luật. Đó là: nợ của tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội, nợ của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) mà DNNN không có khả năng thanh toán, nợ phải trả của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam, và dự phòng nợ bất khả kháng.

Xét về cơ sở lý luận và thông lệ quốc tế, cách tính toán như trên không phản ánh đúng nợ công của Việt Nam vì nhiều lý do.

Thứ nhất, tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội có nguồn thu và chi trả riêng, khi còn các hoạt động kinh tế thì còn có các đối tượng có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm và thụ hưởng chi trả nên không có khả năng vỡ nợ của tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội.

Thứ hai, DNNN là chủ thể kinh tế độc lập, tức là Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm về những khoản nợ trong phạm vi vốn đầu tư của Nhà nước vào DNNN mà thôi, Nhà nước không chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của DNNN, do vậy, không thể tính toàn bộ nợ không có khả năng thanh toán của DNNN vào nợ công.

Lý do thứ ba là Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam là tổ chức do Nhà nước thành lập và đã được cấp vốn để thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao, việc vay nợ của những tổ chức này phải đảm bảo nguyên tắc về khả năng trả nợ, không có rủi ro vỡ nợ.

Và cuối cùng, việc tính dự phòng nợ bất khả kháng trong nước để tính mức nợ công không phải là thông lệ quốc tế phổ biến, không phản ánh đúng bản chất của nợ công là nợ thực tế phát sinh.

PV: Luật QLNC đã quy định rõ các tiêu chí để tính toán nợ công. Tuy nhiên, báo cáo này đề xuất đưa thêm một số các tiêu chí đánh giá mức độ an toàn nợ công như khả năng trả nợ bằng nguồn thu ngân sách, mức độ bội thu hoặc bội chi ngân sách hàng năm… và nhiều tiêu chí khác như chất lượng và rủi ro nợ công, mức độ năm chỉ tiêu an toàn nợ nước ngoài theo tiêu chí của IMF/WB, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia… Ông đánh giá thế nào về việc này?

- PGS.TS Lê Xuân Trường: Theo thông lệ quốc tế, để xác định ngưỡng an toàn của nợ công người ta thường sử dụng 2 tiêu chí là tỷ lệ % nợ công so với GDP và số nợ công tính theo đầu người.

Tiêu chí tỷ lệ % nợ công so với GDP cho thấy rằng tổng số nợ công lũy kế đã chiếm bao nhiêu phần trăm của GDP được tạo ra trong một năm. Đây là chỉ tiêu tổng quát nhất phản ánh mức độ an toàn của nợ công vì suy cho cùng Chính phủ lấy nguồn để trả nợ công từ GDP.

Ngoài chỉ tiêu tỷ lệ % so với GDP, Luật QLNC của Việt Nam còn quy định 3 chỉ tiêu khác đánh giá nợ công là: Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP; trả nợ chính phủ so với tổng thu ngân sách; nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Về cơ bản, những chỉ tiêu này đã phản ánh khá tốt mức độ an toàn của nợ công ở Việt Nam.

Về nghiên cứu khoa học, việc xem xét thực tế để đề xuất thêm một số tiêu chí đánh giá mức độ an toàn của nợ công từ đó nghiên cứu sửa đổi luật cho hợp lý hơn là rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, cần nghiên cứu kỹ lưỡng và tính toán mức độ khả thi của đề xuất. Tôi chưa có điều kiện xem xét kỹ các đề xuất cụ thể này nên chưa thể nhận xét đầy đủ. Tuy nhiên, đánh giá sơ bộ thì có những chỉ tiêu được đề xuất chưa hợp lý, chẳng hạn như chỉ tiêu “mức độ bội thu hoặc bội chi ngân sách hàng năm” vì bản thân nợ công là để bù đắp thâm hụt ngân sách nên không thể lấy nó đo lường chính nó.

Hoặc chỉ tiêu “hệ số tín nhiệm của quốc gia” là một chỉ số được tính toán từ rất nhiều chỉ tiêu khác, là kết quả của nhiều yếu tố, được sử dụng để bên cho vay xem xét xem có nên cho Chính phủ của một nước nào đó vay hay không. Nó chỉ gián tiếp phản ánh độ an toàn của nợ công, không nên sử dụng để phản ánh mức độ an toàn của nợ công.

PV: Có ý kiến tại báo cáo cho rằng nên nâng ngưỡng nợ công cho giai đoạn tới 2015 - 2020 lên 68% GDP. Lý do là rủi ro vỡ nợ của Việt Nam thấp do nợ trong nước cao hơn nợ nước ngoài, tuy phải đảo nợ nhưng mức độ đảm bảo thanh toán cao. Nợ nước ngoài có xu hướng giảm, mức độ rủi ro thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc tế. Ông đánh giá thế nào về đề xuất này?

- PGS.TS Lê Xuân Trường: Ngưỡng nợ công của Việt Nam mà Quốc hội xác định đã được tính toán dựa trên nhiều yếu tố đảm bảo an toàn của nợ công trong đó có cả những yếu tố mà báo cáo này đề cập nên không cần thiết phải nâng trần nợ công ở Việt Nam. Thêm vào đó, việc duy trì ngưỡng nợ công hiện hành cũng tạo áp lực để Chính phủ quyết liệt thực hiện các biện pháp quản lý kinh tế, quản lý chi tiêu công đảm bảo an toàn tài chính quốc gia. Do vậy, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, chưa cần thiết phải nâng ngưỡng nợ công.

PV: Xin cảm ơn ông!

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

(TBTCO) - Ngày 4/4, giá vàng trong nước hiện đang ghi nhận tăng tại nhiều doanh nghiệp, với cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh tăng, phổ biến quanh 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cập nhật: 05/04/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/04/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80