Phát hiện nhiều sai phạm nghiêm trọng tại Agribank

Tài Tâm (theo vov.vn)
Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị chuyển 15 hồ sơ, vụ việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm sang Bộ Công an điều tra, xử lý theo pháp luật.
aa

Thanh tra Chính phủ vừa ra Thông báo Kết luận thanh tra các sai phạm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).

Sai phạm nghiêm trọng trong nhiều lĩnh vực

Kết luận của Thanh tra Chính nêu rõ, từ năm 2009 đến hết năm 2011, Agribank đã chi tiền môi giới huy động vốn với lãi suất vượt mức trần quy định của Ngân hàng Nhà nước (14%/năm) hơn 283 tỷ đồng khiến cho lãi suất vượt 14%/năm.

ngan hang

Thanh tra Chính phủ đã phát hiện sai phạm trong nhiều lĩnh vực của Agribank. Ảnh: ĐT

Vi phạm về thẩm quyền phê duyệt cấp tín dụng, từ ngày 16/6/2009 đến ngày 12/7/2011, Agribank đã phê duyệt cho vay với 189 khách hàng, với dư nợ lên tới hơn 13.816 tỉ đồng, nợ xấu hơn 1.046 tỉ đồng tại cuối năm tài chính 2011 mà không có văn bản ủy quyền của Tổng giám đốc theo quy định. Trong đó dư nợ của các khách hàng trên tại thời điểm 31/12/2011 là gần 14.000 tỷ đồng, nợ xấu là trên 1.000 tỷ đồng.

Ngoài ra, Ngân hàng này cũng vi phạm quy định về huy động và cho vay vàng với số lượng lớn, kéo dài, kể cả khi có quy định cấm của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Agribank còn vi phạm quy định của NHNN về tỷ lệ cấp tín dụng vượt 20% vốn tự có của Ngân hàng NN và PTNT đối với các công ty con mà ngân hàng này nắm quyền kiểm soát, kể cả khi NHNN chỉ đạo bằng văn bản vẫn tiếp tục cho vay với số lượng lớn (gần 149.000 chỉ vàng và trên 2 tỷ đồng).

Cấp tín dụng 4.000 tỷ đồng cho Agriseco là công ty chứng khoán do Agribank kiểm soát thông qua việc ứng vốn và đầu tư trái phiếu của Agriseco trái với quyết định của NHNN, lãi suất thấp. Phát hành thư bảo lãnh thanh toán cho ALC II vay vốn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam không đúng quy định với số lượng lớn, khi đến hạn đã phải trả thay với số tiền gần 209 tỷ đồng…

Đến ngày 31/12/2011, dư nợ cho vay mua tài sản đầu tư, tài sản thuê tài chính là 1.072 tỷ đồng, nợ xấu là 35,5 tỷ đồng; dư nợ mua các khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính của công ty ALC II là 187,8 tỷ đồng…

Agribank còn sai phạm việc vay và cho vay giữa các tổ chức tín dụng. Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, từ ngày 1/1/2011 không có nghiệp vụ gửi tiền và nhận tiền gửi giữa các tổ chức tín dụng, nhưng năm 2011, Agribank vẫn thực hiện gửi tiền và nhận tiền gửi có kỳ hạn với các tổ chức tín dụng khác với tổng doanh số lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng. Trong đó có nhiều giao dịch gửi tiền và nhận tiền gửi đối ứng cùng giá trị, cùng kỳ hạn.

Các giao dịch này thực chất là lách quy định về tỷ lệ giới hạn cấp tín dụng, làm tăng "giả tạo" tổng tài sản trên báo cáo tài chính của các tổ chức tín dụng thực hiện giao dịch.

Agribank có nhiều vi phạm các quy định trong các khâu của quy trình cho vay, bảo lãnh. Kết quả kiểm tra chọn mẫu 155 hồ sơ tín dụng với dư nợ tại thời điểm 31/12/2011 là gần 25.000 tỷ đồng, 23 hồ sơ xử lý rủi ro với dư nợ tại thời điểm 31/12/2011 là trên 1.300 tỷ đồng, gần 30.000 lượng vàng, trên 9,5 triệu USD cho thấy vi phạm xảy ra ở tất cả các khâu của hoạt động tín dụng, từ khâu thẩm định, phê duyệt cho vay, giải ngân, tài sản đảm bảo, quản lý và thu hồi vốn đến xử lý rủi ro; nhiều việc có dấu hiệu cố ý làm trái và/hoặc thiếu trách nhiệm gây hậu quả rất nghiêm trọng cần được xử lý theo quy định pháp luật.

Việc phân loại nợ có nhiều vi phạm dẫn đến chưa phản ánh đúng chất lượng tín dụng, nhất là tình trạng nợ xấu.

Thanh tra đã rà soát lại việc phân loại nợ trên số liệu và báo cáo của Agribank và xác định tỷ lệ nợ xấu là 12,71%; nếu loại trừ các khoản nợ đã cơ cấu theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thì nợ xấu là 12,21%; nếu loại trừ nợ xấu đã hạch toán ngoại bảng, cam kết ngoại bảng thì nợ xấu là 9,83%; kết quả kiểm tra trực tiếp 62 hồ sơ tín dụng với dư nợ hơn 15 nghìn tỷ đồng cũng cho thấy, khả năng nợ xấu của Agribank còn có thể cao hơn.

Cũng qua thanh tra cho thấy, hoạt động đầu tư tài chính của Agribank có nhiều vi phạm, không hiệu quả, trong đó có trường hợp vi phạm nghiêm trọng, mất vốn lớn hoặc nguy cơ thiệt hại lớn. Năm 2009, các công ty con 100% vốn đầu tư của Ngân hàng này lỗ 1.782 tỷ đồng, năm 2010 lỗ 4.393 tỷ đồng. Điển hình là hai công ty cho thuê tài chính ALC I và ALC II có nhiều vi phạm nghiêm trọng, lỗ lớn và mất hoàn toàn vốn chủ sở hữu.

Trong công tác quản lý, thực hiện đầu tư xây dựng vi phạm ở nhiều khâu với số tiền sai phạm lớn trên 8,1 tỷ đồng. Qua thanh tra nhận thấy, vốn đầu tư xây dựng (chưa kể mua sắm thiết bị và công nghệ) hàng năm ở Agribank là rất lớn (khoảng trên 1.500 tỷ đồng) nhưng chưa có sự quan tâm tương xứng, chưa được kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ lãng phí, thất thoát, tham nhũng lớn có thể xảy ra.

Chuyển 15 vụ việc sang Bộ Công an

Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao Thống đốc NHNN kiểm điểm và tổ chức kiểm điểm trách nhiệm về việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quyền chủ sở hữu đối với các vi phạm xảy ra tại Agribank, đồng thời có biện pháp chấn chỉnh những sai phạm nói trên.

Về xử lý kinh tế, Thanh tra Chính phủ đề nghị Thủ tướng yêu cầu Tổng Giám đốc Agribank chỉ đạo các đơn vị được thanh tra thu hồi của các nhà thầu để nộp vào ngân sách Nhà nước qua tài khoản tạm giữ chờ xử lý của Thanh tra Chính phủ số tiền 2.368,3 triệu đồng do có sai phạm trong thanh quyết toán đối với 8 dự án đã được duyệt quyết toán; giảm trừ khi quyết toán số tiền gần 2.356,4 triệu đồng đối với 2 dự án chưa phê duyệt quyết toán.

Đặc biệt, TTCP cũng kiến nghị chuyển cơ quan điều tra Bộ Công an 15 hồ sơ, vụ việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm. Trong đó đã chuyển vụ việc của công ty liên doanh Lifepro Việt Nam và nhóm khách hàng liên quan ngay trong quá trình thanh tra sang Bộ Công an để khởi tố (hiện cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án); chuyển 14 hồ sơ, vụ việc sang Bộ Công an để xử lý theo quy định./.

Tài Tâm (theo vov.vn)

Tài Tâm (theo vov.vn)

Đọc thêm

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

(TBTCO) - Nhằm hỗ trợ khách hàng có nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ đáp ứng nhu cầu học tập ở nước ngoài với tỷ giá ưu đãi, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức triển khai chương trình "Chuyển tiền du học - Không lo tỷ giá" từ tháng 4/2026
Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

(TBTCO) - Đằng sau mức tăng trưởng 2 con số của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là sự dẫn dắt của các nghiệp vụ chủ lực như bảo hiểm sức khỏe và xe cơ giới, song cơ cấu doanh thu có sự dịch chuyển đáng kể. Không ít doanh nghiệp chấp nhận duy trì sản phẩm lỗ như “đòn bẩy” để khai thác các mảng có biên lợi nhuận cao hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 3/4, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; trong khi chiều bán tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng chạm trần. Trên thị trường quốc tế, DXY phục hồi lên 99,98 điểm, tiếp tục giằng co quanh mốc 100 điểm khi Tổng thống Trump phát tín hiệu cứng rắn về nguy cơ leo thang xung đột Trung Đông.
Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

(TBTCO) - Trong năm 2025, Sun Life Việt Nam cho biết tiếp tục chiếm thị phần lớn mảng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, duy trì tài chính an toàn và chiến lược đầu tư dài hạn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 ▲1544K 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 ▲1544K 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 ▲5K 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 ▲5K 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 ▲5K 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Cập nhật: 04/04/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/04/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80