Sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng 12,4%, cao nhất cùng kỳ từ năm 2019
Xét theo ngành, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi tăng 13% trong 10 tháng, đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành khai khoáng tăng 7,1%, đóng góp 1,1 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%, đóng góp 1 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Riêng trong tháng 10, chỉ số sản xuất ngành chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện cùng tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%; khai khoáng tăng 4,9%.
Nhiều ngành công nghiệp cấp II ghi nhận mức tăng khá trong 10 tháng. Trong đó, sản xuất kim loại tăng 25,6%; sản xuất đồ uống tăng 17,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,6%; chế biến thực phẩm tăng 12,9%.
Một số ngành khác cũng duy trì mức tăng hai chữ số như sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 12,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,8%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 11,7%; dệt tăng 10,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 10,1%. Ở chiều ngược lại, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,3%; khai thác than cứng và than non giảm 0,6%.
![]() |
| Sản xuất thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao và sản phẩm dẹt là thép cuộn cán nóng tại Nhà máy thép Hòa Phát Dung Quất. Ảnh: Đức Thanh |
Đà tăng cũng thể hiện ở một số sản phẩm công nghiệp chủ lực. Trong 10 tháng, sản lượng máy tính bảng tăng 36,6%; xe máy tăng 26,8%; máy tính xách tay tăng 25,9%; ô tô tăng 25,1%; thép cán tăng 24%; thép thanh, thép góc và thủy hải sản chế biến cùng tăng 22,5%; đường kính tăng 18,9%; sắt, thép thô tăng 17%; bia tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, một số sản phẩm có sản lượng giảm, gồm bột ngọt giảm 6,7%; phân hỗn hợp NPK giảm 6,3%; tivi giảm 5,1% và khí hóa lỏng LPG giảm 4,9%.
Theo địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng ở 33 địa phương; riêng Sơn La giảm 5%. Một số địa phương có mức tăng cao ở ngành chế biến, chế tạo gồm Hà Tĩnh tăng 41,1%; Quảng Ninh tăng 34,2%; Ninh Bình tăng 26,1%; Nghệ An tăng 25,8%; Thái Nguyên tăng 23,3% và Bắc Ninh tăng 20,5%.
Cùng với sản xuất, lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp cũng tăng. Tại thời điểm ngày 1/10/2026, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng thời điểm năm trước.
Trong đó, lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện tăng tương ứng 0,2% và 1,8%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và 3,9%. Riêng ngành khai khoáng, lao động tăng 0,1% so với tháng trước nhưng giảm 2,3% so với cùng thời điểm năm trước.




