SSI Research: Động thái phát hành tín phiếu không đồng nghĩa với việc thực hiện đảo chiều chính sách tiền tệ

Thái Duy
(TBTCO) - Động thái phát hành tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước có thể được xem như là một cách thức nhằm điều chỉnh trạng thái thanh khoản ngắn hạn trên hệ thống và là hoạt động thường thấy từ các ngân hàng trung ương, không đồng nghĩa với việc Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện đảo chiều chính sách tiền tệ.
aa

Đây là khẳng định của SSI Research về động thái phát hành tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong thời gian gần đây. Trên thực tế, động thái Ngân hàng Nhà nước hút tiền về qua phát hành tín phiếu đang bị một số thông tin suy luận rằng, chính sách tiền tệ đang đảo chiều.

Chỉ là điều chỉnh trạng thái thanh khoản ngắn hạn trên hệ thống

Báo cáo thị trường tiền tệ tuần của SSI Research cho biết, trong tuần trước, NHNN đã có động thái đáng chú ý khi quay trở lại phát hành tín phiếu trong hai phiên giao dịch cuối tuần, với tổng khối lượng 20 nghìn tỷ đồng và kỳ hạn 28 ngày.

Lãi suất trúng thầu phiên đầu ở mức 0,69%, phiên sau ở mức 0,5% - thấp hơn tương đối nhiều so với lãi suất kỳ hạn 1 tháng trên thị trường liên ngân hàng và cho thấy, thanh khoản hệ thống đang khá dư thừa. Tương tự, NHNN chào thầu tổng cộng 15 nghìn tỷ đồng trên kênh kỳ hạn 7 ngày nhưng không có khối lượng trúng thầu nào được ghi nhận.

Về diễn biến lãi suất trên thị trường 2 trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm vẫn dao động trong biên độ hẹp (0,15 - 0,18%) và chênh lệch với lãi suất USD duy trì ở mức -500 điểm cơ bản. Áp lực về tỷ giá tiếp tục xuất hiện trong bối cảnh đồng USD mạnh lên toàn cầu.

SSI Research: Động thái phát hành tín phiếu không đồng nghĩa với việc thực hiện đảo chiều chính sách tiền tệ
Mục đích của NHNN là nhằm hút bớt thanh khoản thị trường 2 để giảm áp lực đầu cơ tỷ giá trong ngắn hạn và lượng hút cũng không quá nhiều (nếu so sánh với giai đoạn nửa cuối năm 2022) nhằm không gây ra căng thẳng thanh khoản trên thị trường 2 và hạn chế tác động lên mặt bằng lãi suất trên thị trường 1.

Theo các chuyên gia của SSI Research, động thái phát hành tín phiếu của NHNN có thể được xem như là một cách thức nhằm điều chỉnh trạng thái thanh khoản ngắn hạn trên hệ thống và là hoạt động thường thấy từ các ngân hàng trung ương, không đồng nghĩa với việc NHNN đã thực hiện đảo chiều chính sách tiền tệ.

Trong khi đó, “trong bối cảnh tăng trưởng GDP vẫn đang kỳ vọng chưa có sự bứt phá và lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát (thấp hơn lạm phát mục tiêu của Chính phủ), chúng tôi không đánh giá cao khả năng NHNN sẽ đảo chiều chính sách tiền tệ - mà sẽ nghiêng nhiều về việc thận trọng duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát như hiện tại” - SSI Research nhấn mạnh thêm.

Theo đó, mục đích của NHNN là nhằm hút bớt thanh khoản thị trường 2 để giảm áp lực đầu cơ tỷ giá trong ngắn hạn và lượng hút cũng không quá nhiều (nếu so sánh với giai đoạn nửa cuối năm 2022) nhằm không gây ra căng thẳng thanh khoản trên thị trường 2 và hạn chế tác động lên mặt bằng lãi suất trên thị trường 1. Bên cạnh đó, cần phải chú ý rằng nghiệp vụ phát hành tín phiếu kì hạn là nghiệp vụ hút VND tại thời điểm hiện tại và sẽ bơm lại sau khi đáo hạn.

Tỷ giá USD/VND duy trì ở cao

Theo thông tin từ SSI Research, tuần qua, đồng USD duy trì sức mạnh của mình khi chỉ số DXY giao dịch trên mốc 105 điểm xuyên suốt tuần, trong khi các đồng tiền chủ chốt đều giảm giá so với USD như: GBP -1,15%, JPY -0,35%, EUR -0,04%... hay các đồng tiền trong khu vực châu Á như: KRW -0,79%, THB -0,75%. -0,68%.

Tâm điểm trong tuần qua là thông điệp từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Như kỳ vọng, lãi suất trong kỳ họp tháng 9 không có sự thay đổi, tuy nhiên FED khẳng định mức lạm phát trong dài hạn vẫn ở mức 2,0%. Trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang tăng trưởng tương đối nhanh và lạm phát vẫn ở mức cao trong thời gian vừa qua, biểu đồ thể hiện mức lãi suất dự kiến (Dot-plot) của FED cho thấy lãi suất kết thúc năm 2023 ở khoảng 5,6%, đồng nghĩa với việc có một lần tăng nữa ở những tháng cuối năm.

Lãi suất sẽ bắt đầu giảm trong năm 2024, xuống còn 5,1%, chậm hơn so với dự báo xuống 4,6% ở cuộc họp tháng 6. Thị trường ngược lại đang có cái nhìn tích cực hơn khi 60% kỳ vọng FED sẽ không tăng lãi suất thêm lần nào nữa trong 3 tháng còn lại của năm 2023.

SSI Research: Động thái phát hành tín phiếu không đồng nghĩa với việc thực hiện đảo chiều chính sách tiền tệ
"Biến động của VND nghiêng nhiều về yếu tố mùa vụ và việc duy trì chính sách tiền tệ phân kỳ với các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới là yếu tố tạo ra áp lực lớn hơn đối với tỷ giá trong quý III" - SSI Research.

Trên thị trường trong nước, diễn biến tỷ giá USD/VND đã bật tăng mạnh theo xu hướng của chỉ số DXY và tương đồng với biến động của các đồng tiền khác trong khu vực.

Tỷ giá liên ngân hàng cuối tuần qua ở vùng 24.335 đồng, tăng gần 100 đồng so với tuần trước đó, tương đương với 0,35%. Tỷ giá niêm yết của VCB cũng đã bật tăng 0,4% (hoặc 105) đồng trong tuần qua trong khi đó tỷ giá tự do giao dịch ổn định hơn, quanh vùng 24.300 đồng, đạt 24.350 đồng (tăng 90 đồng).

Theo SSI Research, việc chênh lệch giữa tỷ giá trên thị trường ngân hàng, chợ đen và mức độ biến động cho thấy, chênh lệch cung - cầu đang nghiêng nhiều trên thị trường liên ngân hàng - nhiều khả năng là do hoạt động đầu cơ chênh lệch tỷ giá từ các ngân hàng thương mại.

“Chúng tôi duy trì quan điểm cho rằng, biến động của VND nghiêng nhiều về yếu tố mùa vụ và việc duy trì chính sách tiền tệ phân kỳ với các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới là yếu tố tạo ra áp lực lớn hơn đối với tỷ giá trong quý III. Điểm tích cực là vị thế của NHNN tương đối khác so với thời điểm cùng kỳ năm ngoái (nhờ lượng dự trữ ngoại hối đã được bổ sung trong giai đoạn 6 tháng đầu năm) cũng như nguồn cung ngoại tệ tích cực như FDI giải ngân 8 tháng đạt 13,1 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ hay cán cân thương mại ước tính đạt thặng dư kỷ lục ở mức 19,9 tỷ USD” - SSI Research cho hay./.

Thái Duy

Đọc thêm

Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

(TBTCO) - Không đại lý, không tư vấn, không giấy tờ - chỉ một cú chạm trên ứng dụng mua sắm, ông Phạm Trường Khánh - Tổng giám đốc Affina Việt Nam, trao đổi với Thời báo Tài chính Việt Nam về sự bứt tốc của bảo hiểm nhúng khi đang định hình lại cách người Việt tiếp cận bảo hiểm, và những điểm nghẽn doanh nghiệp cần vượt qua để biến "phí lẻ" thành lợi nhuận bền vững.
Có thể nhận lương hưu, trợ cấp qua tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VneID từ ngày 28/9

Có thể nhận lương hưu, trợ cấp qua tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VneID từ ngày 28/9

Từ ngày 28/9/2026, người dân có thể tạo lập tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VNeID và tích hợp một tài khoản thanh toán, ví điện tử hoặc tài khoản tiền di động để tiếp nhận lương hưu, tiền hỗ trợ và các khoản chi trả an sinh xã hội.
Nghiệm thu phòng cháy chữa cháy bị bãi bỏ, bảo hiểm tự lo thẩm định?

Nghiệm thu phòng cháy chữa cháy bị bãi bỏ, bảo hiểm tự lo thẩm định?

Từ ngày 1/7/2026, khi văn bản chấp thuận nghiệm thu PCCC của cơ quan công an không còn là điều kiện bắt buộc, các doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải tự xác minh mức độ an toàn cháy nổ của khách hàng trước khi cấp đơn — một phép thử năng lực khảo sát và thẩm định rủi ro thực sự của thị trường.
LPBank lọt Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

LPBank lọt Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Năm 2025, LPBank đóng góp 3.298 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, tăng hơn 3 lần so với năm 2021, đưa ngân hàng vào Top 6 ngân hàng tư nhân nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả này ghi dấu hành trình mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động và từng bước gia tăng năng lực tạo giá trị cho nền kinh tế.
Chuyển đổi số ngân hàng càng sâu, “tấm khiên” an toàn càng phải vững

Chuyển đổi số ngân hàng càng sâu, “tấm khiên” an toàn càng phải vững

(TBTCO) - Công nghệ, dữ liệu đang đi sâu vào từng "mắt xích" trong hoạt động ngân hàng, từ mở tài khoản tức thì, thanh toán xuyên biên giới đến số hóa hành trình cấp tín dụng... Song hành với tốc độ chuyển đổi số là yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng, chống gian lận số.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị phụ huynh, học sinh chủ động kiểm tra giá trị thẻ bảo hiểm y tế

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị, chuẩn bị bước vào năm học mới, phụ huynh, học sinh, sinh viên chủ động kiểm tra giá trị sử dụng thẻ bảo hiểm y tế sau khi hoàn tất tham gia, nhằm kịp thời phát hiện và phản ánh nếu thông tin chưa được cập nhật hoặc chưa chính xác.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới: Lan tỏa giá trị nhân văn từ những hỗ trợ thiết thực

(TBTCO) - Trong năm 2026, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân tai nạn giao thông. Tại Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa và một số địa phương, các khoản hỗ trợ được trao kịp thời, đúng đối tượng, góp phần chia sẻ khó khăn, giảm bớt gánh nặng cho gia đình người bị nạn. Qua đó, vai trò của Quỹ tiếp tục được phát huy không chỉ trong công tác hỗ trợ nhân đạo mà còn trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn giao thông và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

Giá vàng hôm nay ngày 19/8: Vàng thế giới lao dốc, chênh lệch trong nước nới rộng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.335,4 USD/ounce, kéo chênh lệch với vàng miếng trong nước lên khoảng 6,4 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng trong nước tăng nhẹ, giá vàng miếng giao dịch quanh 144,3 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▲600K 146,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▲600K 146,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▲600K 146,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▲600K 146,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▲600K 146,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▲600K 146,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▲60K 14,660 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▲60K 14,660 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▲60K 14,660 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,360 ▲60K 14,710 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,360 ▲60K 14,710 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,360 ▲60K 14,710 ▲60K
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 14,020 ▲60K 14,620 ▲60K
Trang sức 99.99 14,030 ▲60K 14,630 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▲1293K 14,662 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▲1293K 14,663 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▲6K 1,461 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▲6K 1,462 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,401 ▲6K 1,446 ▲1302K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲594K 143,168 ▲594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,811 ▲450K 108,611 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,688 ▲79860K 98,488 ▲88680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,565 ▲366K 88,365 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,466 ▲35K 8,446 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,654 ▲250K 60,454 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1293K 1,466 ▲1320K
Cập nhật: 21/08/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18078 18353 18928
CAD 18404 18681 19294
CHF 31939 32320 32963
CNY 0 3840 3950
EUR 29843 30065 31143
GBP 34761 35154 36085
HKD 0 3193 3395
JPY 157 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15243 15833
SGD 19979 20261 20829
THB 711 775 828
USD (1,2) 25804 0 0
USD (5,10,20) 25844 0 0
USD (50,100) 25872 25886 26251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,895 25,895 26,275
USD(1-2-5) 24,860 - -
USD(10-20) 24,860 - -
EUR 29,898 29,922 31,341
JPY 159.5 159.79 169.46
GBP 34,947 35,042 36,256
AUD 18,283 18,349 19,044
CAD 18,593 18,653 19,342
CHF 32,208 32,308 33,267
SGD 20,107 20,170 20,959
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.38 18.13 19.73
THB 759.15 768.53 823.11
NZD 15,226 15,367 15,824
SEK - 2,707 2,803
DKK - 4,010 4,151
NOK - 2,749 2,847
LAK - 0.88 1.23
MYR 6,027.64 - 6,803.24
TWD 739.17 - 895.49
SAR - 6,828.22 7,192.27
KWD - 82,749 88,047
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,890 25,920 26,300
EUR 29,942 30,062 31,260
GBP 34,982 35,122 36,160
HKD 3,261 3,274 3,391
CHF 32,068 32,197 33,138
JPY 160.07 160.71 168.65
AUD 18,249 18,322 18,919
SGD 20,182 20,263 20,860
THB 774 777 814
CAD 18,607 18,682 19,280
NZD 15,303 15,851
KRW 18.01 19.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26290
AUD 18268 18368 19291
CAD 18596 18696 19710
CHF 32236 32266 33840
CNY 3819.2 3844.2 3979.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30051 30081 31807
GBP 35098 35148 36909
HKD 0 3330 0
JPY 160.63 161.13 171.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15372 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20155 20285 21006
THB 0 739.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 12500000 12500000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,920 25,970 26,315
USD20 25,870 25,970 26,830
USD1 25,820 25,970 26,880
AUD 18,297 18,397 19,514
EUR 29,847 29,947 31,623
CAD 18,536 18,636 19,953
SGD 20,232 20,382 21,699
JPY 161.12 162.62 168.25
GBP 34,987 35,137 36,235
XAU 14,298,000 0 14,602,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 775 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/08/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80