Tăng sức bật cho kinh tế tư nhân từ hỗ trợ lãi suất 2% cùng ưu tiên vốn tín dụng

Anh Tú
(TBTCO) - Với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, Bộ Chính trị, Quốc hội ban hành nghị quyết và kế hoạch hành động Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân, hướng tới mục tiêu 3 triệu doanh nghiệp và đóng góp 60% GDP vào năm 2045, trong đó nhấn mạnh đến các mục tiêu cụ thể về hỗ trợ tài chính, tín dụng và đa dạng hóa nguồn vốn cho doanh nghiệp. Xung quanh nội dung này, phóng viên có cuộc trao đổi với TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế.
aa
Tăng sức bật cho kinh tế tư nhân từ hỗ trợ lãi suất 2% cùng ưu tiên vốn tín dụng
Cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho khu vực tư nhân cũng góp phần tạo động lực phát triển thị trường tài chính. Ảnh minh họa

PV: Xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế được thể hiện rõ trong các nghị quyết mới ban hành, trong đó nổi bật là ưu tiên dòng vốn tín dụng, ưu đãi lãi suất cho doanh nghiệp. Ông đánh giá ra sao về tầm quan trọng của việc khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp tư nhân?

Tăng sức bật cho kinh tế tư nhân từ hỗ trợ lãi suất 2% cùng ưu tiên vốn tín dụng

TS. Lê Bá Chí Nhân: Khu vực kinh tế tư nhân hiện chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, tạo ra hàng triệu việc làm và đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp tư nhân lại thường xuyên gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn do quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế và thiếu tài sản đảm bảo. Việc khơi thông dòng vốn sẽ giúp các doanh nghiệp này mở rộng sản xuất, đầu tư vào công nghệ, nâng cao năng suất và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Cùng với đó, cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho khu vực tư nhân cũng góp phần tạo động lực phát triển thị trường tài chính. Việc này thúc đẩy sự phát triển của các định chế tài chính trung gian như: ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty tài chính vi mô… tạo ra một thị trường tài chính đa dạng, minh bạch và hiệu quả hơn.

Sự nhất quán trong chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng cần được cụ thể hóa bằng những hành động thực tiễn như: ưu đãi lãi suất, đơn giản hóa thủ tục vay vốn, hỗ trợ tín dụng không cần tài sản thế chấp. Điều này giúp doanh nghiệp tư nhân tin tưởng vào chính sách, từ đó yên tâm đầu tư dài hạn và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế.

Tạo "vùng đệm" tài chính giúp vượt khủng hoảng và đón cơ hội

"Việc cải thiện tiếp cận vốn sẽ nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng của doanh nghiệp trước các cú sốc kinh tế như đại dịch Covid-19 hay biến động địa chính trị. Chính sách ưu đãi lãi suất và hỗ trợ tiếp cận tín dụng sẽ tạo ra “vùng đệm” tài chính giúp họ vượt qua khủng hoảng, qua đó, giữ vững sự ổn định của thị trường lao động và chuỗi cung ứng. Khi có thể tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, họ sẽ mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực mới như công nghệ xanh, chuyển đổi số… Đây là yếu tố then chốt giúp nền kinh tế thích ứng với các xu hướng toàn cầu và tăng trưởng bền vững". TS. Lê Bá Chí Nhân

PV: Nghị quyết lần này giao Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại khuyến khích cho vay dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh hoặc tài sản vô hình thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp truyền thống. Theo ông, liệu hệ thống ngân hàng hiện đã sẵn sàng để triển khai rộng rãi chủ trương này?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Về mặt nguyên tắc, hệ thống ngân hàng đang trong quá trình chuyển đổi nhưng chưa hoàn toàn sẵn sàng. Phần lớn các ngân hàng Việt Nam vẫn ưu tiên cho vay có tài sản đảm bảo, như: bất động sản, phương tiện, hàng tồn kho… Nguyên nhân là do hệ thống quản trị rủi ro chưa đủ chiều sâu, thiếu dữ liệu đáng tin cậy để phân tích dòng tiền doanh nghiệp. Khung pháp lý về xử lý nợ xấu đối với tài sản vô hình hoặc phương án kinh doanh còn nhiều "khoảng trống".

Dù vậy, một số ngân hàng thương mại cổ phần lớn như: Vietcombank, BIDV, Techcombank, MB… thử nghiệm cho vay theo dòng tiền đối với các doanh nghiệp có dòng tiền rõ ràng như doanh nghiệp FDI, chuỗi siêu thị, ngành tiêu dùng nhanh. Bên cạnh đó, các công nghệ tài chính (fintech) và hệ thống xếp hạng tín nhiệm đang phát triển, hỗ trợ ngân hàng đánh giá rủi ro mà không cần tài sản thế chấp.

PV: Theo ông, cần làm gì để tháo gỡ những nút thắt này và giúp ngân hàng mở rộng cho vay theo dòng tiền hay dựa trên tài sản vô hình, tài sản hình thành trong tương lai?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Để mở rộng hình thức cho vay này, cần đáp ứng một số điều kiện. Trước hết, phải có cơ sở dữ liệu tài chính đầy đủ và minh bạch, thông qua việc kết nối dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, báo cáo tài chính chuẩn hóa. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có báo cáo tài chính được kiểm toán hoặc còn thiếu minh bạch, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá dòng tiền.

Tiếp đến, nâng cao năng lực đánh giá tín dụng phi truyền thống, thông qua đội ngũ phân tích tài chính có khả năng thẩm định phương án kinh doanh và dự báo dòng tiền, cũng như ứng dụng các mô hình định lượng, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong đánh giá rủi ro.

Cuối cùng, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách hỗ trợ. Pháp luật hiện vẫn ưu tiên tài sản hữu hình khi xử lý nợ, trong khi việc công nhận tài sản vô hình như: thương hiệu, quyền khai thác, sở hữu trí tuệ… còn rất hạn chế. Đồng thời, cần có các quy định bảo vệ ngân hàng khi doanh nghiệp không trả được nợ từ các khoản vay không có tài sản thế chấp.

Nếu triển khai mở rộng cho vay theo dòng tiền mà chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về hệ thống, nhân lực và pháp lý thì rủi ro là rất lớn, bao gồm gia tăng nợ xấu, suy giảm uy tín của hệ thống tài chính và mất cân đối thanh khoản, đặc biệt trong bối cảnh thị trường biến động.

Tựu trung, việc chuyển đổi sang cho vay theo dòng tiền là cần thiết, nhất là đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, công nghệ và sáng tạo, nơi giá trị không nằm ở tài sản vật chất mà ở mô hình kinh doanh. Tuy nhiên, việc này cần được thực hiện theo lộ trình và có sự đồng hành từ Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước thông qua việc tạo khung pháp lý rõ ràng, hỗ trợ chia sẻ rủi ro như bảo lãnh tín dụng, quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích chuyển đổi số, minh bạch hóa hoạt động doanh nghiệp. Hiện nhiều quốc gia như: Hàn Quốc, Singapore, Israel… đã triển khai cho vay theo dòng tiền rất thành công.

PV: Xin cảm ơn ông!

Cần rõ tiêu chí khi ưu đãi lãi suất 2%, mạnh tay khơi thông vốn

Tại các nghị quyết mới ban hành, các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) cũng được xác định là lĩnh vực ưu tiên thúc đẩy, nổi bật là chính sách nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm.

Theo đánh giá của chuyên gia kinh tế TS. Lê Bá Chí Nhân, chính sách này giúp Việt Nam đáp ứng các cam kết quốc tế về phát thải ròng bằng không vào năm 2050, duy trì mục tiêu tăng trưởng GDP. Đồng thời, tạo ra cú huých ban đầu cho doanh nghiệp dấn thân vào quá trình chuyển đổi xanh. Việc hỗ trợ lãi suất 2% sẽ giúp giảm chi phí tài chính, từ đó, tạo động lực để doanh nghiệp chủ động tham gia vào các dự án xanh, thay vì chỉ thực hiện nghĩa vụ tuân thủ.

Chính sách này còn giúp khơi thông dòng vốn xanh từ khu vực ngân hàng. Thay vì e ngại rủi ro khi cho vay các dự án xanh, khi Nhà nước hỗ trợ lãi suất, ngân hàng sẽ có động lực hơn để tài trợ các dự án xanh, do chi phí vốn thấp hơn, rủi ro được chia sẻ và bản thân ngân hàng cũng được cộng điểm ESG trong các đánh giá quốc tế.

"Ưu đãi lãi suất sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và cạnh tranh xanh giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp được ưu đãi sẽ có lợi thế cạnh tranh nhờ chi phí vận hành thấp hơn, dễ tiếp cận thị trường xuất khẩu nhờ tuân thủ tiêu chuẩn ESG, tăng uy tín với nhà đầu tư, quỹ tín dụng xanh và các đối tác toàn cầu. Hiệu ứng "domino" sẽ xuất hiện khi các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng buộc phải chuyển đổi nếu muốn tiếp tục hợp tác" - ông Nhân kỳ vọng.

Tuy nhiên, theo chuyên gia này, cần xây dựng tiêu chí rõ ràng và minh bạch cho các dự án được hưởng ưu đãi, kết nối với các chương trình đào tạo và tư vấn chuyển đổi xanh cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa và khuyến khích các ngân hàng phát triển sản phẩm tín dụng xanh chuyên biệt, thay vì chỉ áp dụng gói ưu đãi chung.

Anh Tú

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 ▼30K 14,610 ▼30K
Trang sức 99.99 13,920 ▼30K 14,620 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 ▼3K 14,822 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 ▼3K 14,823 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,442 ▼3K 1,477 ▲1329K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,442 ▼3K 1,478 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,417 ▲1275K 1,457 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,257 ▼297K 144,257 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,636 ▼225K 109,436 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,436 ▲80472K 99,236 ▲89292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,236 ▼183K 89,036 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,302 ▼175K 85,102 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,113 ▼125K 60,913 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cập nhật: 16/07/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17838 18112 18684
CAD 18156 18432 19047
CHF 31927 32308 32949
CNY 0 3839 3932
EUR 29478 29699 30776
GBP 34729 35121 36051
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15060 15647
SGD 19838 20120 20690
THB 698 761 814
USD (1,2) 25994 0 0
USD (5,10,20) 26035 0 0
USD (50,100) 26064 26078 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,609 29,633 31,047
JPY 157.58 157.86 167.38
GBP 34,901 34,995 36,195
AUD 18,031 18,096 18,779
CAD 18,348 18,407 19,086
CHF 32,212 32,312 33,264
SGD 19,948 20,010 20,797
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.27 16.97 18.46
THB 745.19 754.39 807.86
NZD 15,005 15,144 15,593
SEK - 2,690 2,785
DKK - 3,961 4,100
NOK - 2,671 2,766
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,029.63 - 6,804.78
TWD 736.81 - 892.54
SAR - 6,873.64 7,239.79
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26080 26080 26440
AUD 18008 18108 19031
CAD 18334 18434 19449
CHF 32160 32190 33773
CNY 3818.2 3843.2 3978.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29649 29679 31404
GBP 35004 35054 36822
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15131 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19988 20118 20842
THB 0 725.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,089 26,139 26,450
USD20 26,089 26,139 26,450
USD1 26,089 26,139 26,450
AUD 18,055 18,155 19,273
EUR 29,445 29,545 31,209
CAD 18,284 18,384 19,692
SGD 20,072 20,222 20,776
JPY 158.95 160.45 165.99
GBP 34,913 35,063 36,119
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80