Tăng sức bật cho kinh tế tư nhân từ hỗ trợ lãi suất 2% cùng ưu tiên vốn tín dụng

Anh Tú
(TBTCO) - Với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, Bộ Chính trị, Quốc hội ban hành nghị quyết và kế hoạch hành động Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân, hướng tới mục tiêu 3 triệu doanh nghiệp và đóng góp 60% GDP vào năm 2045, trong đó nhấn mạnh đến các mục tiêu cụ thể về hỗ trợ tài chính, tín dụng và đa dạng hóa nguồn vốn cho doanh nghiệp. Xung quanh nội dung này, phóng viên có cuộc trao đổi với TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế.
aa
Tăng sức bật cho kinh tế tư nhân từ hỗ trợ lãi suất 2% cùng ưu tiên vốn tín dụng
Cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho khu vực tư nhân cũng góp phần tạo động lực phát triển thị trường tài chính. Ảnh minh họa

PV: Xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế được thể hiện rõ trong các nghị quyết mới ban hành, trong đó nổi bật là ưu tiên dòng vốn tín dụng, ưu đãi lãi suất cho doanh nghiệp. Ông đánh giá ra sao về tầm quan trọng của việc khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp tư nhân?

Tăng sức bật cho kinh tế tư nhân từ hỗ trợ lãi suất 2% cùng ưu tiên vốn tín dụng

TS. Lê Bá Chí Nhân: Khu vực kinh tế tư nhân hiện chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, tạo ra hàng triệu việc làm và đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp tư nhân lại thường xuyên gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn do quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế và thiếu tài sản đảm bảo. Việc khơi thông dòng vốn sẽ giúp các doanh nghiệp này mở rộng sản xuất, đầu tư vào công nghệ, nâng cao năng suất và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Cùng với đó, cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho khu vực tư nhân cũng góp phần tạo động lực phát triển thị trường tài chính. Việc này thúc đẩy sự phát triển của các định chế tài chính trung gian như: ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty tài chính vi mô… tạo ra một thị trường tài chính đa dạng, minh bạch và hiệu quả hơn.

Sự nhất quán trong chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng cần được cụ thể hóa bằng những hành động thực tiễn như: ưu đãi lãi suất, đơn giản hóa thủ tục vay vốn, hỗ trợ tín dụng không cần tài sản thế chấp. Điều này giúp doanh nghiệp tư nhân tin tưởng vào chính sách, từ đó yên tâm đầu tư dài hạn và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế.

Tạo "vùng đệm" tài chính giúp vượt khủng hoảng và đón cơ hội

"Việc cải thiện tiếp cận vốn sẽ nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng của doanh nghiệp trước các cú sốc kinh tế như đại dịch Covid-19 hay biến động địa chính trị. Chính sách ưu đãi lãi suất và hỗ trợ tiếp cận tín dụng sẽ tạo ra “vùng đệm” tài chính giúp họ vượt qua khủng hoảng, qua đó, giữ vững sự ổn định của thị trường lao động và chuỗi cung ứng. Khi có thể tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, họ sẽ mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực mới như công nghệ xanh, chuyển đổi số… Đây là yếu tố then chốt giúp nền kinh tế thích ứng với các xu hướng toàn cầu và tăng trưởng bền vững". TS. Lê Bá Chí Nhân

PV: Nghị quyết lần này giao Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại khuyến khích cho vay dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh hoặc tài sản vô hình thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp truyền thống. Theo ông, liệu hệ thống ngân hàng hiện đã sẵn sàng để triển khai rộng rãi chủ trương này?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Về mặt nguyên tắc, hệ thống ngân hàng đang trong quá trình chuyển đổi nhưng chưa hoàn toàn sẵn sàng. Phần lớn các ngân hàng Việt Nam vẫn ưu tiên cho vay có tài sản đảm bảo, như: bất động sản, phương tiện, hàng tồn kho… Nguyên nhân là do hệ thống quản trị rủi ro chưa đủ chiều sâu, thiếu dữ liệu đáng tin cậy để phân tích dòng tiền doanh nghiệp. Khung pháp lý về xử lý nợ xấu đối với tài sản vô hình hoặc phương án kinh doanh còn nhiều "khoảng trống".

Dù vậy, một số ngân hàng thương mại cổ phần lớn như: Vietcombank, BIDV, Techcombank, MB… thử nghiệm cho vay theo dòng tiền đối với các doanh nghiệp có dòng tiền rõ ràng như doanh nghiệp FDI, chuỗi siêu thị, ngành tiêu dùng nhanh. Bên cạnh đó, các công nghệ tài chính (fintech) và hệ thống xếp hạng tín nhiệm đang phát triển, hỗ trợ ngân hàng đánh giá rủi ro mà không cần tài sản thế chấp.

PV: Theo ông, cần làm gì để tháo gỡ những nút thắt này và giúp ngân hàng mở rộng cho vay theo dòng tiền hay dựa trên tài sản vô hình, tài sản hình thành trong tương lai?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Để mở rộng hình thức cho vay này, cần đáp ứng một số điều kiện. Trước hết, phải có cơ sở dữ liệu tài chính đầy đủ và minh bạch, thông qua việc kết nối dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, báo cáo tài chính chuẩn hóa. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có báo cáo tài chính được kiểm toán hoặc còn thiếu minh bạch, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá dòng tiền.

Tiếp đến, nâng cao năng lực đánh giá tín dụng phi truyền thống, thông qua đội ngũ phân tích tài chính có khả năng thẩm định phương án kinh doanh và dự báo dòng tiền, cũng như ứng dụng các mô hình định lượng, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong đánh giá rủi ro.

Cuối cùng, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách hỗ trợ. Pháp luật hiện vẫn ưu tiên tài sản hữu hình khi xử lý nợ, trong khi việc công nhận tài sản vô hình như: thương hiệu, quyền khai thác, sở hữu trí tuệ… còn rất hạn chế. Đồng thời, cần có các quy định bảo vệ ngân hàng khi doanh nghiệp không trả được nợ từ các khoản vay không có tài sản thế chấp.

Nếu triển khai mở rộng cho vay theo dòng tiền mà chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về hệ thống, nhân lực và pháp lý thì rủi ro là rất lớn, bao gồm gia tăng nợ xấu, suy giảm uy tín của hệ thống tài chính và mất cân đối thanh khoản, đặc biệt trong bối cảnh thị trường biến động.

Tựu trung, việc chuyển đổi sang cho vay theo dòng tiền là cần thiết, nhất là đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, công nghệ và sáng tạo, nơi giá trị không nằm ở tài sản vật chất mà ở mô hình kinh doanh. Tuy nhiên, việc này cần được thực hiện theo lộ trình và có sự đồng hành từ Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước thông qua việc tạo khung pháp lý rõ ràng, hỗ trợ chia sẻ rủi ro như bảo lãnh tín dụng, quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích chuyển đổi số, minh bạch hóa hoạt động doanh nghiệp. Hiện nhiều quốc gia như: Hàn Quốc, Singapore, Israel… đã triển khai cho vay theo dòng tiền rất thành công.

PV: Xin cảm ơn ông!

Cần rõ tiêu chí khi ưu đãi lãi suất 2%, mạnh tay khơi thông vốn

Tại các nghị quyết mới ban hành, các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) cũng được xác định là lĩnh vực ưu tiên thúc đẩy, nổi bật là chính sách nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm.

Theo đánh giá của chuyên gia kinh tế TS. Lê Bá Chí Nhân, chính sách này giúp Việt Nam đáp ứng các cam kết quốc tế về phát thải ròng bằng không vào năm 2050, duy trì mục tiêu tăng trưởng GDP. Đồng thời, tạo ra cú huých ban đầu cho doanh nghiệp dấn thân vào quá trình chuyển đổi xanh. Việc hỗ trợ lãi suất 2% sẽ giúp giảm chi phí tài chính, từ đó, tạo động lực để doanh nghiệp chủ động tham gia vào các dự án xanh, thay vì chỉ thực hiện nghĩa vụ tuân thủ.

Chính sách này còn giúp khơi thông dòng vốn xanh từ khu vực ngân hàng. Thay vì e ngại rủi ro khi cho vay các dự án xanh, khi Nhà nước hỗ trợ lãi suất, ngân hàng sẽ có động lực hơn để tài trợ các dự án xanh, do chi phí vốn thấp hơn, rủi ro được chia sẻ và bản thân ngân hàng cũng được cộng điểm ESG trong các đánh giá quốc tế.

"Ưu đãi lãi suất sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và cạnh tranh xanh giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp được ưu đãi sẽ có lợi thế cạnh tranh nhờ chi phí vận hành thấp hơn, dễ tiếp cận thị trường xuất khẩu nhờ tuân thủ tiêu chuẩn ESG, tăng uy tín với nhà đầu tư, quỹ tín dụng xanh và các đối tác toàn cầu. Hiệu ứng "domino" sẽ xuất hiện khi các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng buộc phải chuyển đổi nếu muốn tiếp tục hợp tác" - ông Nhân kỳ vọng.

Tuy nhiên, theo chuyên gia này, cần xây dựng tiêu chí rõ ràng và minh bạch cho các dự án được hưởng ưu đãi, kết nối với các chương trình đào tạo và tư vấn chuyển đổi xanh cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa và khuyến khích các ngân hàng phát triển sản phẩm tín dụng xanh chuyên biệt, thay vì chỉ áp dụng gói ưu đãi chung.

Anh Tú

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80