Tăng sức bật cho kinh tế tư nhân từ hỗ trợ lãi suất 2% cùng ưu tiên vốn tín dụng

Anh Tú
(TBTCO) - Với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, Bộ Chính trị, Quốc hội ban hành nghị quyết và kế hoạch hành động Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân, hướng tới mục tiêu 3 triệu doanh nghiệp và đóng góp 60% GDP vào năm 2045, trong đó nhấn mạnh đến các mục tiêu cụ thể về hỗ trợ tài chính, tín dụng và đa dạng hóa nguồn vốn cho doanh nghiệp. Xung quanh nội dung này, phóng viên có cuộc trao đổi với TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế.
aa
Tăng sức bật cho kinh tế tư nhân từ hỗ trợ lãi suất 2% cùng ưu tiên vốn tín dụng
Cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho khu vực tư nhân cũng góp phần tạo động lực phát triển thị trường tài chính. Ảnh minh họa

PV: Xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế được thể hiện rõ trong các nghị quyết mới ban hành, trong đó nổi bật là ưu tiên dòng vốn tín dụng, ưu đãi lãi suất cho doanh nghiệp. Ông đánh giá ra sao về tầm quan trọng của việc khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp tư nhân?

Tăng sức bật cho kinh tế tư nhân từ hỗ trợ lãi suất 2% cùng ưu tiên vốn tín dụng

TS. Lê Bá Chí Nhân: Khu vực kinh tế tư nhân hiện chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, tạo ra hàng triệu việc làm và đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp tư nhân lại thường xuyên gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn do quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế và thiếu tài sản đảm bảo. Việc khơi thông dòng vốn sẽ giúp các doanh nghiệp này mở rộng sản xuất, đầu tư vào công nghệ, nâng cao năng suất và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Cùng với đó, cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho khu vực tư nhân cũng góp phần tạo động lực phát triển thị trường tài chính. Việc này thúc đẩy sự phát triển của các định chế tài chính trung gian như: ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty tài chính vi mô… tạo ra một thị trường tài chính đa dạng, minh bạch và hiệu quả hơn.

Sự nhất quán trong chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng cần được cụ thể hóa bằng những hành động thực tiễn như: ưu đãi lãi suất, đơn giản hóa thủ tục vay vốn, hỗ trợ tín dụng không cần tài sản thế chấp. Điều này giúp doanh nghiệp tư nhân tin tưởng vào chính sách, từ đó yên tâm đầu tư dài hạn và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế.

Tạo "vùng đệm" tài chính giúp vượt khủng hoảng và đón cơ hội

"Việc cải thiện tiếp cận vốn sẽ nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng của doanh nghiệp trước các cú sốc kinh tế như đại dịch Covid-19 hay biến động địa chính trị. Chính sách ưu đãi lãi suất và hỗ trợ tiếp cận tín dụng sẽ tạo ra “vùng đệm” tài chính giúp họ vượt qua khủng hoảng, qua đó, giữ vững sự ổn định của thị trường lao động và chuỗi cung ứng. Khi có thể tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, họ sẽ mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực mới như công nghệ xanh, chuyển đổi số… Đây là yếu tố then chốt giúp nền kinh tế thích ứng với các xu hướng toàn cầu và tăng trưởng bền vững". TS. Lê Bá Chí Nhân

PV: Nghị quyết lần này giao Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại khuyến khích cho vay dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh hoặc tài sản vô hình thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp truyền thống. Theo ông, liệu hệ thống ngân hàng hiện đã sẵn sàng để triển khai rộng rãi chủ trương này?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Về mặt nguyên tắc, hệ thống ngân hàng đang trong quá trình chuyển đổi nhưng chưa hoàn toàn sẵn sàng. Phần lớn các ngân hàng Việt Nam vẫn ưu tiên cho vay có tài sản đảm bảo, như: bất động sản, phương tiện, hàng tồn kho… Nguyên nhân là do hệ thống quản trị rủi ro chưa đủ chiều sâu, thiếu dữ liệu đáng tin cậy để phân tích dòng tiền doanh nghiệp. Khung pháp lý về xử lý nợ xấu đối với tài sản vô hình hoặc phương án kinh doanh còn nhiều "khoảng trống".

Dù vậy, một số ngân hàng thương mại cổ phần lớn như: Vietcombank, BIDV, Techcombank, MB… thử nghiệm cho vay theo dòng tiền đối với các doanh nghiệp có dòng tiền rõ ràng như doanh nghiệp FDI, chuỗi siêu thị, ngành tiêu dùng nhanh. Bên cạnh đó, các công nghệ tài chính (fintech) và hệ thống xếp hạng tín nhiệm đang phát triển, hỗ trợ ngân hàng đánh giá rủi ro mà không cần tài sản thế chấp.

PV: Theo ông, cần làm gì để tháo gỡ những nút thắt này và giúp ngân hàng mở rộng cho vay theo dòng tiền hay dựa trên tài sản vô hình, tài sản hình thành trong tương lai?

TS. Lê Bá Chí Nhân: Để mở rộng hình thức cho vay này, cần đáp ứng một số điều kiện. Trước hết, phải có cơ sở dữ liệu tài chính đầy đủ và minh bạch, thông qua việc kết nối dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, báo cáo tài chính chuẩn hóa. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có báo cáo tài chính được kiểm toán hoặc còn thiếu minh bạch, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá dòng tiền.

Tiếp đến, nâng cao năng lực đánh giá tín dụng phi truyền thống, thông qua đội ngũ phân tích tài chính có khả năng thẩm định phương án kinh doanh và dự báo dòng tiền, cũng như ứng dụng các mô hình định lượng, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong đánh giá rủi ro.

Cuối cùng, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách hỗ trợ. Pháp luật hiện vẫn ưu tiên tài sản hữu hình khi xử lý nợ, trong khi việc công nhận tài sản vô hình như: thương hiệu, quyền khai thác, sở hữu trí tuệ… còn rất hạn chế. Đồng thời, cần có các quy định bảo vệ ngân hàng khi doanh nghiệp không trả được nợ từ các khoản vay không có tài sản thế chấp.

Nếu triển khai mở rộng cho vay theo dòng tiền mà chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về hệ thống, nhân lực và pháp lý thì rủi ro là rất lớn, bao gồm gia tăng nợ xấu, suy giảm uy tín của hệ thống tài chính và mất cân đối thanh khoản, đặc biệt trong bối cảnh thị trường biến động.

Tựu trung, việc chuyển đổi sang cho vay theo dòng tiền là cần thiết, nhất là đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, công nghệ và sáng tạo, nơi giá trị không nằm ở tài sản vật chất mà ở mô hình kinh doanh. Tuy nhiên, việc này cần được thực hiện theo lộ trình và có sự đồng hành từ Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước thông qua việc tạo khung pháp lý rõ ràng, hỗ trợ chia sẻ rủi ro như bảo lãnh tín dụng, quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích chuyển đổi số, minh bạch hóa hoạt động doanh nghiệp. Hiện nhiều quốc gia như: Hàn Quốc, Singapore, Israel… đã triển khai cho vay theo dòng tiền rất thành công.

PV: Xin cảm ơn ông!

Cần rõ tiêu chí khi ưu đãi lãi suất 2%, mạnh tay khơi thông vốn

Tại các nghị quyết mới ban hành, các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) cũng được xác định là lĩnh vực ưu tiên thúc đẩy, nổi bật là chính sách nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm.

Theo đánh giá của chuyên gia kinh tế TS. Lê Bá Chí Nhân, chính sách này giúp Việt Nam đáp ứng các cam kết quốc tế về phát thải ròng bằng không vào năm 2050, duy trì mục tiêu tăng trưởng GDP. Đồng thời, tạo ra cú huých ban đầu cho doanh nghiệp dấn thân vào quá trình chuyển đổi xanh. Việc hỗ trợ lãi suất 2% sẽ giúp giảm chi phí tài chính, từ đó, tạo động lực để doanh nghiệp chủ động tham gia vào các dự án xanh, thay vì chỉ thực hiện nghĩa vụ tuân thủ.

Chính sách này còn giúp khơi thông dòng vốn xanh từ khu vực ngân hàng. Thay vì e ngại rủi ro khi cho vay các dự án xanh, khi Nhà nước hỗ trợ lãi suất, ngân hàng sẽ có động lực hơn để tài trợ các dự án xanh, do chi phí vốn thấp hơn, rủi ro được chia sẻ và bản thân ngân hàng cũng được cộng điểm ESG trong các đánh giá quốc tế.

"Ưu đãi lãi suất sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và cạnh tranh xanh giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp được ưu đãi sẽ có lợi thế cạnh tranh nhờ chi phí vận hành thấp hơn, dễ tiếp cận thị trường xuất khẩu nhờ tuân thủ tiêu chuẩn ESG, tăng uy tín với nhà đầu tư, quỹ tín dụng xanh và các đối tác toàn cầu. Hiệu ứng "domino" sẽ xuất hiện khi các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng buộc phải chuyển đổi nếu muốn tiếp tục hợp tác" - ông Nhân kỳ vọng.

Tuy nhiên, theo chuyên gia này, cần xây dựng tiêu chí rõ ràng và minh bạch cho các dự án được hưởng ưu đãi, kết nối với các chương trình đào tạo và tư vấn chuyển đổi xanh cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa và khuyến khích các ngân hàng phát triển sản phẩm tín dụng xanh chuyên biệt, thay vì chỉ áp dụng gói ưu đãi chung.

Anh Tú

Đọc thêm

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức xác định tỷ lệ LDR. Động thái này được đánh giá sẽ hỗ trợ đáng kể thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt với nhóm ngân hàng "big 4".
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80