Tập đoàn Bảo Việt: Lợi nhuận sau thuế 9 tháng đầu năm tăng trưởng 13,4%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa công bố kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2024 (trước soát xét) với hiệu quả kinh doanh toàn tập đoàn tăng trưởng khả quan.
aa
Tập đoàn Bảo Việt: Lợi nhuận sau thuế 9 tháng đầu năm tăng trưởng 13,4%
Lợi nhuận trước thuế và sau thuế hợp nhất lần lượt đạt 1.965 tỷ đồng và 1.619 tỷ đồng. Ảnh: T.L

Bảo Việt đạt 1.619 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2023

Tổng doanh thu hợp nhất sau 9 tháng đầu năm 2024 đạt 42.122 tỷ đồng, tương ứng gần 1,7 tỷ đô la Mỹ. Lợi nhuận trước thuế và sau thuế hợp nhất lần lượt đạt 1.965 tỷ đồng và 1.619 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng 14,7% và 13,4% so với cùng kỳ năm 2023. Tổng tài sản hợp nhất tại 30/09/2024 đạt 238.219 tỷ đồng, tăng 7,7% so với thời điểm 31/12/2023.

Tổng doanh thu công ty mẹ đạt 1.224 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 866 tỷ đồng, tăng trưởng lần lượt 5,1% và 4,8% so với cùng kỳ năm 2023, bám sát tiến độ kế hoạch năm 2024 đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua. Tại 30/09/2024, tổng tài sản công ty mẹ đạt 18.675 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt 18.502 tỷ đồng, tăng lần lượt 4,5% và 4,7% so với thời điểm 31/12/2023.

Hướng tới 60 năm thành lập (15/01/1965 - 15/01/2025), Bảo Việt tập trung nguồn lực tối ưu hóa lợi thế mạng lưới, sự đa dạng trong các lĩnh vực kinh doanh và tính chuyên nghiệp của từng đơn vị thành viên với mục tiêu kiến tạo tương lai. Với tiềm lực tài chính mạnh, quy mô vốn và tài sản hàng đầu trong các doanh nghiệp bảo hiểm, Bảo Việt luôn thực hiện các cam kết với cổ đông, gia tăng giá trị cho nhà đầu tư.

Theo kế hoạch phân phối lợi nhuận, trong năm 2024, Bảo Việt sẽ dành hơn 745 tỷ đồng chi trả cổ tức bằng tiền, tương đương tỷ lệ 10,037% trên mệnh giá cổ phiếu. Bên cạnh đó, Bảo Việt cũng phân bổ nguồn kinh phí cho các hoạt động an sinh xã hội như: đầu tư cho giáo dục; nâng cấp cơ sở hạ tầng y tế; xây dựng nhà tình nghĩa; khắc phục hậu quả thiên tai…

Kết quả kinh doanh tốt ở cả 2 hoạt động bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ

9 tháng năm 2024, thị trường bảo hiểm đã có những điểm sáng phục hồi tích cực, là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Việt Nam duy nhất trên thị trường, Bảo Việt Nhân thọ đã nỗ lực nghiên cứu và triển khai nhiều sản phẩm bảo hiểm ngày càng ưu việt, đáp ứng nhu cầu được bảo vệ và an tâm của các gia đình trước những rủi ro trong cuộc sống. Theo đó, 9 tháng, Bảo Việt Nhân thọ đạt 982 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng trưởng 23,3%.

Nhiều chương trình chăm sóc và tri ân khách hàng đã được Bảo Việt Nhân thọ triển khai trên toàn quốc như các chương trình đổi quà cho khách hàng thân thiết, chương trình khuyến mại tặng quà “Gia tăng bảo vệ - sống khỏe an vui”, “Bảo vệ cả nhà, vi vu thả ga”. Bên cạnh đó, Bảo Việt Nhân thọ cũng thực hiện các chương trình an sinh, tặng học bổng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có con em khách hàng đã từng gặp rủi ro và được Bảo Việt Nhân thọ chi trả bảo hiểm trước đây.

Hướng đến 60 năm Bảo Việt, Bảo Việt Nhân thọ triển khai chương trình tri ân “Thay lời muốn nói - Gói trọn yêu thương” với 5.000 bộ quà tặng Yêu thương. Chương trình diễn ra từ ngày 20/10/2024 đến hết ngày 25/11/2024 dành cho các khách hàng nữ của Bảo Việt Nhân thọ tham gia hợp đồng mới và đáp ứng đủ các điều kiện của chương trình.

Đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, 9 tháng đầu năm 2024, tổng doanh thu của Bảo hiểm Bảo Việt đạt 8.854 tỷ đồng, tăng trưởng 3,3%; lợi nhuận sau thuế đạt 250 tỷ đồng, tăng trưởng 40,1% so với cùng kỳ năm 2023.

Từ ngày 01/11, hướng tới 60 năm ngày thành lập doanh nghiệp, Bảo hiểm Bảo Việt triển khai chương trình tri ân khách hàng với ưu đãi 10% ++ phí bảo hiểm sức khoẻ, con người, nhà tư nhân, vật chất xe và du lịch cùng rất nhiều quà tặng hấp dẫn trên toàn hệ thống.

Bảo hiểm Bảo Việt vinh dự nhận giải thưởng "60 năm Thành tựu Xuất sắc - Ngành Bảo hiểm Việt Nam 2024" (60 Years of Excellence Awards Insurance Vietnam 2024) từ Global Banking & Finance Review. Giải thưởng này là sự ghi nhận cho những cống hiến xuất sắc của Bảo hiểm Bảo Việt trong suốt 60 năm phát triển và đồng hành cùng nhiều thế hệ khách hàng và doanh nghiệp.

Trong 2 ngày 23-24/10 vừa qua, Bảo hiểm Bảo Việt với vai trò thành viên đồng sáng lập AGCIA (Hiệp hội Bảo hiểm tín dụng & bảo lãnh châu Á (AGCIA)) là đại diện duy nhất của Việt Nam tham gia Đại hội đồng thường niên lần thứ 5 Việt Nam. Bảo hiểm Bảo Việt luôn tích cực phát triển các chương trình bảo hiểm đa dạng tới khách hàng cá nhân và doanh nghiệp để an tâm đầu tư, quản lý rủi ro và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Trong đó, bảo hiểm bảo lãnh là một trong những sản phẩm nổi bật đã được triển khai từ năm 2020, mang đến sự bảo đảm tài chính vững chắc, đáp ứng nhu cầu đa dạng của các doanh nghiệp trong các dự án đầu tư lớn, xây dựng, và cung ứng dịch vụ…

Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC): 9 tháng đầu năm đạt 718 tỷ đồng tổng doanh thu và 146 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế (số liệu thực hiện), tăng trưởng lần lượt 27,3% và 29,5% so với cùng kỳ năm 2023.

Công ty Quản lý Quỹ Bảo Việt (BVF) đạt kết quả khả quan với tổng doanh thu 9 tháng đạt 134 tỷ đồng, tăng trưởng là 12,6%; lợi nhuận sau thuế đạt 63 tỷ đồng, tăng trưởng 12% so với cùng kỳ 2023.

Hồng Chi

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

(TBTCO) - SACOMBANK dự kiến chào bán ra công chúng tối đa 15.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 7 - 10 năm, với lãi suất thả nổi, biên độ tối đa 4,2%/năm. Kế hoạch diễn ra khi ngân hàng đẩy mạnh huy động qua trái phiếu, số dư kỳ phiếu, trái phiếu cuối tháng 6/2026 lên 18.300 tỷ đồng, cao nhất nhiều năm; một số lô gần đây có lãi suất lên tới 12,5%/năm.
VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái  xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

(TBTCO) - VietinBank chính thức triển khai hợp tác chiến lược 3 bên cùng Công ty Cổ phần Văn hóa Ngôi Nhà Xanh (GreenHouse) - đơn vị vận hành nền tảng và Ingrid International Pte. Ltd (Ingrid International) - đơn vị tư vấn chiến lược, phát triển hệ sinh thái, hướng tới xây dựng hệ sinh thái xanh AI & thông minh, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển bền vững tại Việt Nam.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 143,500
Hà Nội - PNJ 140,500 143,500
Đà Nẵng - PNJ 140,500 143,500
Miền Tây - PNJ 140,500 143,500
Tây Nguyên - PNJ 140,500 143,500
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 143,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 05/10/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17533 17806 18390
CAD 17699 17973 18596
CHF 30705 31081 31728
CNY 0 3833 3929
EUR 28610 28827 29907
GBP 33604 33992 34929
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14290 14885
SGD 19762 20043 20627
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 05/10/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30