Tín dụng chờ "bơm" 2,5 triệu tỷ đồng năm 2025, nhu cầu vốn đến từ lĩnh vực nào?

(TBTCO) - Giới phân tích cho rằng, với mong muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ năm 2025, nguồn cung tín dụng bung ra với dự kiến tăng trưởng 16%. Đón dòng vốn tín dụng này, nhu cầu vay vốn tín dụng sẽ đến từ một số ngành chủ chốt và từ mảng cho vay bán lẻ, cho vay mua nhà với nhiều tín hiệu khả quan cuối năm qua.
aa

Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) có văn bản gửi các tổ chức tín dụng thông báo công khai, minh bạch về nguyên tắc giao tăng trưởng tín dụng năm 2025. Dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 khoảng 16%, cao hơn mục tiêu đề ra 15% trong năm 2024 và cũng là con số cao nhất trong suốt nhiều năm qua. Trước đó, tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2020-2023 chỉ đạt lần lượt là: 12,2%; 13,6%; 14% và 13,7%.

Nhu cầu tín dụng gia tăng từ lĩnh vực nào?

Đến nay, dù vẫn chưa chốt số liệu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2024 song theo giới phân tích, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% năm vừa qua đạt được do tín dụng tăng tốc vào cuối năm và được thúc đẩy bởi động lực tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và môi trường lãi suất thấp được duy trì cả năm qua.

Theo tính toán, trong trường hợp hoàn thành mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả hai năm 2024-2025 theo mong muốn của nhà điều hành, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đến cuối năm 2025 sẽ đạt hơn 18 triệu tỷ đồng và khoảng 2,5 triệu tỷ đồng sẽ được bơm vào nền kinh tế trong năm 2025.

Đánh giá triển vọng tăng trưởng tín dụng năm 2025, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch Công ty cổ phần FiinGroup cho rằng, ngành ngân hàng vẫn sẽ duy trì tăng trưởng cao năm 2025, nhằm hỗ trợ mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao như Chính phủ đặt ra trong kỷ nguyên mới.

"Vấn đề của ngành ngân hàng là làm sao quản trị rủi ro và phân bổ dòng vốn vào lĩnh vực và ngành phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngành, của mỗi nhóm mô hình hoạt động và của các ngân hàng thương mại cụ thể" - ông Thuân nhìn nhận.

Bên cạnh đó, NHNN cũng tiếp tục cho phép các tổ chức tín dụng chủ động điều chỉnh tăng thêm dư nợ dựa trên xếp hạng tín nhiệm và giám sát các hệ số an toàn vốn mà không cần đề nghị xin duyệt từ cơ quan quản lý. Chính sách này không chỉ tăng tính linh hoạt cho các ngân hàng, mà còn giúp dòng vốn chảy nhanh hơn đến các lĩnh vực cần thiết, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp và người dân.

Tín dụng chờ
Ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch Công ty cổ phần FiinGroup.

Cầu tín dụng tăng nhờ nhiều ngành chủ chốt và tín dụng tiêu dùng

"Cầu về tín dụng và huy động vốn sẽ tiếp tục tăng từ một số ngành chủ chốt như: bất động sản khu công nghiệp (theo tăng trưởng FDI), bất động sản dân cư (nhờ sự cải thiện về tiến trình tháo gỡ pháp lý dự án) và đặc biệt là ngành năng lượng tái tạo (nhờ việc quyết liệt khôi phục tiến trình triển khai Quy hoạch Điện 8 nhằm đối phó với rủi ro thiếu điện vào năm 2026) của Chính phủ.

Tôi cũng kỳ vọng sự cải thiện cầu tín dụng tiêu dùng và đi vào giai đoạn tăng trưởng mới, vốn chưa khôi phục trong giai đoạn từ Covid-19 đến nay" - ông Thuân nói.

Nhìn lại mức tăng trưởng tín dụng ngân hàng năm vừa qua, theo Chủ tịch FiinGroup, con số này cho thấy những nỗ lực rõ rệt của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm hỗ trợ nền kinh tế.

"Chính sách này giúp kích thích dòng vốn trên thị trường, tạo động lực phục hồi cho sản xuất kinh doanh và tăng cường sức mua tiêu dùng nội địa, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều thách thức. Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ không chỉ phản ánh hoạt động tích cực của ngành ngân hàng mà còn góp phần ổn định kinh tế vĩ mô năm qua" - ông Thuân khẳng định.

Mặc dù vậy, Chủ tịch FiinGroup cho rằng, nhìn từ mức tăng trưởng tín dụng ngân hàng cũng cần lưu ý một số yếu tố rủi ro, đó là tín dụng đối với chủ đầu tư bất động sản tăng mạnh ở mức 16,6% trong 9 tháng đầu năm 2024, trong khi tổng tín dụng toàn ngành chỉ tăng 8,5%. Điều này diễn ra trong bối cảnh nợ xấu gộp gia tăng và sự phục hồi của ngành bất động sản chưa rõ nét. Bên cạnh đó, tăng trưởng tín dụng cá nhân đang ở mức rất thấp, do sức tiêu dùng chưa hồi phục như kỳ vọng.

Kỳ vọng tăng trưởng tín dụng khả quan tại một số nhà băng

Trong báo cáo chiến lược đầu tư năm 2025, Chứng khoán Vietcap (VCSC) cũng kỳ vọng NHNN sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng, giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao. Trong đó, nhu cầu tín dụng từ các mảng cho vay doanh nghiệp dự báo tiếp tục ở mức cao, cùng kỳ vọng mảng cho vay bán lẻ, cho vay mua nhà sẽ tiếp tục phục hồi, từ đó, giúp tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 đạt kết quả khả quan.

Nhìn lại dữ liệu năm 2024, có thể thấy một số lĩnh vực ghi nhận tăng trưởng tín dụng ấn tượng, có thể kể đến như: mảng bán buôn và bán lẻ tăng 24,3%; xây dựng tăng 26,2%; bất động sản tăng 30,8%. Tuy nhiên, cầu tín dụng trong mảng cho vay mua nhà và cho vay hộ gia đình mãi tới quý III/2024 mới có dấu hiệu phục hồi rõ nét. Năm 2025, một số ngân hàng được kỳ vọng tiếp đà tăng trưởng có thể kể đến như: VPBank, ACB, Techcombank...

Theo đánh giá của Chứng khoán MB (MBS), với Techcombank, tăng trưởng tín dụng cả năm 2024 được kỳ vọng đạt 23,5%, NIM (biên lãi ròng) được dự báo sẽ phục hồi mạnh mẽ lên mức 4,5%, tăng 43 điểm cơ bản.

Lợi nhuận sau thuế của Techcombank trong năm 2024 cũng được kỳ vọng tăng 28,7% cùng kỳ và sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng trong năm 2025 nhờ thu nhập ngoài lãi sẽ tăng trưởng cao hơn. Bên cạnh đó, chi phí trích lập được dự báo sẽ giảm nhẹ nhờ nợ xấu kiểm soát dưới 1%.

Tín dụng chờ
Tín dụng chờ "bơm" 2,5 triệu tỷ năm 2025, nhu cầu đến từ những lĩnh vực nào?

Với VPBank, tăng trưởng tín dụng cao trong năm 2025 dự kiến sẽ có đóng góp lớn hơn từ mảng cho vay bán lẻ, nhưng đồng thời cũng tạo áp lực nợ xấu gia tăng lớn hơn. FECredit có thể hòa vốn vào năm 2024 và bắt đầu đóng góp lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng từ năm 2025 với sự hỗ trợ tích cực từ cổ đông chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) trong quá trình tái cơ cấu.

Cũng theo Chứng khoán Vietcap, VPBank cũng là ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn cao, NIM cao và sự hợp lực tốt giữa các các công ty con (FECredit và VPBank Securities) và các đối tác sẽ giúp VPBank đối mặt với những thách thức trong quản lý rủi ro. Ngoài ra, với sự hỗ trợ của SMBC trong việc huy động vốn, phát triển khách hàng mới là khách hàng FDI và cải thiện quản lý rủi ro, VPBank có thể nắm bắt các cơ hội tăng trưởng tốt năm 2025.

Với chiến lược thận trọng hơn giúp giảm thiểu rủi ro trong điều kiện bất lợi, ACB lại là ngân hàng tập trung vào khách hàng bán lẻ và doanh nghiệp vừa và nhỏ. ACB không đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và chỉ có 1,1% dư nợ cho vay liên quan đến các công ty phát triển bất động sản tính đến quý 3/2024. Vì vậy, giới phân tích cho rằng ACB là một trong những ngân hàng có dư nợ cho vay có chất lượng tốt nhất trong số các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam.

Với lượng khách hàng trung thành và phạm vi phủ sóng rộng khắp của các phòng giao dịch tại khu vực phía Nam hỗ trợ ACB huy động nguồn vốn với chi phí tương đối thấp từ khách hàng bán lẻ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên: Mở rộng bao phủ, tăng sức bảo vệ

Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên: Mở rộng bao phủ, tăng sức bảo vệ

(TBTCO) - Cùng với mở rộng diện bao phủ, Quỹ bảo hiểm y tế đã chi trả chi phí khám, chữa bệnh từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng cho nhiều học sinh, sinh viên, góp phần giảm đáng kể gánh nặng tài chính cho gia đình.
VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

(TBTCO) - Ngày 27–28/8/2026 vừa qua, Đoàn công tác của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) do Phó Tổng Giám đốc Bùi Văn Thông dẫn đầu đã tham dự Hội nghị Tài chính Bền vững Toàn cầu lần thứ 16 tại thành phố Karlsruhe, Đức. Đặc biệt, trong khuôn khổ hội nghị, VDB đã vinh dự được trao Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững (Best Innovation in Sustainable Financial Products & Services) cho Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.
VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

(TBTCO) - Từ nay, khách hàng có thêm cơ hội nhận e-voucher từ VPBank thông qua chương trình ưu đãi “Hoàn tiền Thịnh Vượng ngay – Mở quà liền tay”. Cơ chế ưu đãi chồng ưu đãi này đang tạo thêm sức hút cho chương trình Hoàn tiền Thịnh Vượng, giúp mỗi lần mua sắm của khách hàng trở nên thú vị hơn.
BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Đồng hành cùng hộ kinh doanh, BAC A BANK tiếp tục mang đến ưu đãi thiết thực cho khách hàng đăng ký tham gia chương trình “Ting Ting thảnh thơi – Săn hời ưu đãi” từ 03/09/2026 đến hết 28/02/2027.
Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi xuống, trong đó vàng nhẫn giảm tới 700.000 đồng/lượng, vàng miếng giảm tối đa 500.000 đồng/lượng.
Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

(TBTCO) - Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nới khoảng cách lên 2,8 triệu tỷ đồng, gia tăng nhiều sức ép. Trong khi nợ xấu gây “kẹt” dòng tiền quay vòng, các ngân hàng tìm cách đa dạng nguồn vốn, còn nhà điều hành dùng nhiều công cụ “nới” không gian thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (2/9): DXY tiến sát 100 điểm, kỳ vọng nâng lãi suất lan rộng tại nhiều ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (2/9): DXY tiến sát 100 điểm, kỳ vọng nâng lãi suất lan rộng tại nhiều ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 2/9, tỷ giá trung tâm neo ở 25.610 đồng. Chỉ số DXY nhích lên 99,74 điểm, đồng USD mạnh lên khi lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm lên 4,8%, cao nhất kể từ đầu năm 2025, trong khi giá dầu tăng mạnh. Cùng lúc, kỳ vọng thắt chặt tiền tệ tại Anh, New Zealand và Nhật Bản, với khả năng các ngân hàng trung ương nâng lãi suất.
Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,100 ▼1000K 147,600 ▼900K
Hà Nội - PNJ 144,100 ▼1000K 147,600 ▼900K
Đà Nẵng - PNJ 144,100 ▼1000K 147,600 ▼900K
Miền Tây - PNJ 144,100 ▼1000K 147,600 ▼900K
Tây Nguyên - PNJ 144,100 ▼1000K 147,600 ▼900K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,100 ▼1000K 147,600 ▼900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▼100K 14,760 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▼100K 14,760 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▼100K 14,760 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,460 ▼100K 14,810 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,460 ▼100K 14,810 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,460 ▼100K 14,810 ▼100K
NL 99.99 13,600 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▼100K
Trang sức 99.9 14,120 ▼100K 14,720 ▼100K
Trang sức 99.99 14,130 ▼100K 14,730 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 ▼10K 14,762 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 ▼10K 14,763 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 ▼10K 1,471 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 ▼10K 1,472 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 ▼10K 1,461 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 ▼991K 144,653 ▼991K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 ▼750K 109,736 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 ▼680K 99,508 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 ▼61K 8,928 ▼61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 ▼583K 85,335 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 ▼46569K 6,108 ▼55389K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▼10K 1,476 ▼10K
Cập nhật: 05/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18231 18506 19083
CAD 18293 18569 19191
CHF 31533 31913 32561
CNY 0 3840 3936
EUR 29628 29849 30930
GBP 34429 34821 35759
HKD 0 3192 3395
JPY 160 163 170
KRW 0 18 20
NZD 0 15012 15597
SGD 20025 20307 20884
THB 706 769 824
USD (1,2) 25793 0 0
USD (5,10,20) 25833 0 0
USD (50,100) 25861 25875 26245
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,880 25,880 26,260
USD(1-2-5) 24,845 - -
USD(10-20) 24,845 - -
EUR 29,704 29,728 31,135
JPY 162.17 162.46 172.31
GBP 34,625 34,719 35,932
AUD 18,418 18,485 19,190
CAD 18,535 18,595 19,281
CHF 31,831 31,930 32,878
SGD 20,139 20,202 21,003
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,257 3,267 3,404
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 754.8 764.12 818.14
NZD 14,990 15,129 15,582
SEK - 2,684 2,778
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,755 2,852
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.66 - 6,799.36
TWD 742.75 - 899.84
SAR - 6,823.72 7,187.59
KWD - 82,620 87,911
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,875 25,905 26,285
EUR 29,785 29,905 31,100
GBP 34,683 34,822 35,855
HKD 3,260 3,273 3,390
CHF 31,753 31,881 32,810
JPY 163.36 164.02 172
AUD 18,453 18,527 19,125
SGD 20,234 20,315 20,912
THB 772 775 812
CAD 18,578 18,653 19,250
NZD 15,125 15,670
KRW 18.36 20.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25848 25848 26260
AUD 18409 18509 19431
CAD 18523 18623 19637
CHF 31777 31807 33389
CNY 3821.7 3846.7 3981.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29817 29847 31572
GBP 34733 34783 36535
HKD 0 3330 0
JPY 162.99 163.49 174.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.5 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15115 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 735.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14560000 14560000 14860000
SBJ 13000000 13000000 14860000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,840 25,870 26,255
USD20 25,820 25,870 26,845
USD1 24,325 25,870 26,885
AUD 18,396 18,546 19,680
EUR 29,558 29,698 31,400
CAD 18,411 18,561 19,896
SGD 20,193 20,390 21,676
JPY 163.39 164.89 170.69
GBP 34,564 34,761 35,873
XAU 14,558,000 0 14,862,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/09/2026 15:30
Ngân hàng