Tín dụng chờ "bơm" 2,5 triệu tỷ đồng năm 2025, nhu cầu vốn đến từ lĩnh vực nào?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giới phân tích cho rằng, với mong muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ năm 2025, nguồn cung tín dụng bung ra với dự kiến tăng trưởng 16%. Đón dòng vốn tín dụng này, nhu cầu vay vốn tín dụng sẽ đến từ một số ngành chủ chốt và từ mảng cho vay bán lẻ, cho vay mua nhà với nhiều tín hiệu khả quan cuối năm qua.
aa

Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) có văn bản gửi các tổ chức tín dụng thông báo công khai, minh bạch về nguyên tắc giao tăng trưởng tín dụng năm 2025. Dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 khoảng 16%, cao hơn mục tiêu đề ra 15% trong năm 2024 và cũng là con số cao nhất trong suốt nhiều năm qua. Trước đó, tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2020-2023 chỉ đạt lần lượt là: 12,2%; 13,6%; 14% và 13,7%.

Nhu cầu tín dụng gia tăng từ lĩnh vực nào?

Đến nay, dù vẫn chưa chốt số liệu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2024 song theo giới phân tích, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% năm vừa qua đạt được do tín dụng tăng tốc vào cuối năm và được thúc đẩy bởi động lực tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và môi trường lãi suất thấp được duy trì cả năm qua.

Theo tính toán, trong trường hợp hoàn thành mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả hai năm 2024-2025 theo mong muốn của nhà điều hành, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đến cuối năm 2025 sẽ đạt hơn 18 triệu tỷ đồng và khoảng 2,5 triệu tỷ đồng sẽ được bơm vào nền kinh tế trong năm 2025.

Đánh giá triển vọng tăng trưởng tín dụng năm 2025, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch Công ty cổ phần FiinGroup cho rằng, ngành ngân hàng vẫn sẽ duy trì tăng trưởng cao năm 2025, nhằm hỗ trợ mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao như Chính phủ đặt ra trong kỷ nguyên mới.

"Vấn đề của ngành ngân hàng là làm sao quản trị rủi ro và phân bổ dòng vốn vào lĩnh vực và ngành phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngành, của mỗi nhóm mô hình hoạt động và của các ngân hàng thương mại cụ thể" - ông Thuân nhìn nhận.

Bên cạnh đó, NHNN cũng tiếp tục cho phép các tổ chức tín dụng chủ động điều chỉnh tăng thêm dư nợ dựa trên xếp hạng tín nhiệm và giám sát các hệ số an toàn vốn mà không cần đề nghị xin duyệt từ cơ quan quản lý. Chính sách này không chỉ tăng tính linh hoạt cho các ngân hàng, mà còn giúp dòng vốn chảy nhanh hơn đến các lĩnh vực cần thiết, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp và người dân.

Tín dụng chờ
Ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch Công ty cổ phần FiinGroup.

Cầu tín dụng tăng nhờ nhiều ngành chủ chốt và tín dụng tiêu dùng

"Cầu về tín dụng và huy động vốn sẽ tiếp tục tăng từ một số ngành chủ chốt như: bất động sản khu công nghiệp (theo tăng trưởng FDI), bất động sản dân cư (nhờ sự cải thiện về tiến trình tháo gỡ pháp lý dự án) và đặc biệt là ngành năng lượng tái tạo (nhờ việc quyết liệt khôi phục tiến trình triển khai Quy hoạch Điện 8 nhằm đối phó với rủi ro thiếu điện vào năm 2026) của Chính phủ.

Tôi cũng kỳ vọng sự cải thiện cầu tín dụng tiêu dùng và đi vào giai đoạn tăng trưởng mới, vốn chưa khôi phục trong giai đoạn từ Covid-19 đến nay" - ông Thuân nói.

Nhìn lại mức tăng trưởng tín dụng ngân hàng năm vừa qua, theo Chủ tịch FiinGroup, con số này cho thấy những nỗ lực rõ rệt của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm hỗ trợ nền kinh tế.

"Chính sách này giúp kích thích dòng vốn trên thị trường, tạo động lực phục hồi cho sản xuất kinh doanh và tăng cường sức mua tiêu dùng nội địa, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều thách thức. Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ không chỉ phản ánh hoạt động tích cực của ngành ngân hàng mà còn góp phần ổn định kinh tế vĩ mô năm qua" - ông Thuân khẳng định.

Mặc dù vậy, Chủ tịch FiinGroup cho rằng, nhìn từ mức tăng trưởng tín dụng ngân hàng cũng cần lưu ý một số yếu tố rủi ro, đó là tín dụng đối với chủ đầu tư bất động sản tăng mạnh ở mức 16,6% trong 9 tháng đầu năm 2024, trong khi tổng tín dụng toàn ngành chỉ tăng 8,5%. Điều này diễn ra trong bối cảnh nợ xấu gộp gia tăng và sự phục hồi của ngành bất động sản chưa rõ nét. Bên cạnh đó, tăng trưởng tín dụng cá nhân đang ở mức rất thấp, do sức tiêu dùng chưa hồi phục như kỳ vọng.

Kỳ vọng tăng trưởng tín dụng khả quan tại một số nhà băng

Trong báo cáo chiến lược đầu tư năm 2025, Chứng khoán Vietcap (VCSC) cũng kỳ vọng NHNN sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng, giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao. Trong đó, nhu cầu tín dụng từ các mảng cho vay doanh nghiệp dự báo tiếp tục ở mức cao, cùng kỳ vọng mảng cho vay bán lẻ, cho vay mua nhà sẽ tiếp tục phục hồi, từ đó, giúp tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 đạt kết quả khả quan.

Nhìn lại dữ liệu năm 2024, có thể thấy một số lĩnh vực ghi nhận tăng trưởng tín dụng ấn tượng, có thể kể đến như: mảng bán buôn và bán lẻ tăng 24,3%; xây dựng tăng 26,2%; bất động sản tăng 30,8%. Tuy nhiên, cầu tín dụng trong mảng cho vay mua nhà và cho vay hộ gia đình mãi tới quý III/2024 mới có dấu hiệu phục hồi rõ nét. Năm 2025, một số ngân hàng được kỳ vọng tiếp đà tăng trưởng có thể kể đến như: VPBank, ACB, Techcombank...

Theo đánh giá của Chứng khoán MB (MBS), với Techcombank, tăng trưởng tín dụng cả năm 2024 được kỳ vọng đạt 23,5%, NIM (biên lãi ròng) được dự báo sẽ phục hồi mạnh mẽ lên mức 4,5%, tăng 43 điểm cơ bản.

Lợi nhuận sau thuế của Techcombank trong năm 2024 cũng được kỳ vọng tăng 28,7% cùng kỳ và sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng trong năm 2025 nhờ thu nhập ngoài lãi sẽ tăng trưởng cao hơn. Bên cạnh đó, chi phí trích lập được dự báo sẽ giảm nhẹ nhờ nợ xấu kiểm soát dưới 1%.

Tín dụng chờ
Tín dụng chờ "bơm" 2,5 triệu tỷ năm 2025, nhu cầu đến từ những lĩnh vực nào?

Với VPBank, tăng trưởng tín dụng cao trong năm 2025 dự kiến sẽ có đóng góp lớn hơn từ mảng cho vay bán lẻ, nhưng đồng thời cũng tạo áp lực nợ xấu gia tăng lớn hơn. FECredit có thể hòa vốn vào năm 2024 và bắt đầu đóng góp lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng từ năm 2025 với sự hỗ trợ tích cực từ cổ đông chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) trong quá trình tái cơ cấu.

Cũng theo Chứng khoán Vietcap, VPBank cũng là ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn cao, NIM cao và sự hợp lực tốt giữa các các công ty con (FECredit và VPBank Securities) và các đối tác sẽ giúp VPBank đối mặt với những thách thức trong quản lý rủi ro. Ngoài ra, với sự hỗ trợ của SMBC trong việc huy động vốn, phát triển khách hàng mới là khách hàng FDI và cải thiện quản lý rủi ro, VPBank có thể nắm bắt các cơ hội tăng trưởng tốt năm 2025.

Với chiến lược thận trọng hơn giúp giảm thiểu rủi ro trong điều kiện bất lợi, ACB lại là ngân hàng tập trung vào khách hàng bán lẻ và doanh nghiệp vừa và nhỏ. ACB không đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và chỉ có 1,1% dư nợ cho vay liên quan đến các công ty phát triển bất động sản tính đến quý 3/2024. Vì vậy, giới phân tích cho rằng ACB là một trong những ngân hàng có dư nợ cho vay có chất lượng tốt nhất trong số các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam.

Với lượng khách hàng trung thành và phạm vi phủ sóng rộng khắp của các phòng giao dịch tại khu vực phía Nam hỗ trợ ACB huy động nguồn vốn với chi phí tương đối thấp từ khách hàng bán lẻ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17814 18088 18663
CAD 18150 18426 19042
CHF 31818 32199 32832
CNY 0 3839 3931
EUR 29407 29628 30705
GBP 34423 34814 35744
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14969 15550
SGD 19812 20094 20665
THB 698 761 815
USD (1,2) 25994 0 0
USD (5,10,20) 26035 0 0
USD (50,100) 26064 26078 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,511 29,535 30,944
JPY 157.61 157.89 167.43
GBP 34,565 34,659 35,852
AUD 18,000 18,065 18,744
CAD 18,347 18,406 19,082
CHF 32,081 32,181 33,132
SGD 19,929 19,991 20,778
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 748.53 757.77 810.76
NZD 14,953 15,092 15,537
SEK - 2,676 2,771
DKK - 3,948 4,087
NOK - 2,669 2,764
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,038.53 - 6,814.83
TWD 737.41 - 893.26
SAR - 6,871.99 7,237.67
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26450
AUD 18004 18104 19027
CAD 18347 18447 19462
CHF 32062 32092 33678
CNY 3820 3845 3980.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29589 29619 31345
GBP 34703 34753 36513
HKD 0 3355 0
JPY 158.47 158.97 169.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15068 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19973 20103 20829
THB 0 729.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80