Tỷ giá VND/USD tăng nhẹ, giá vàng tiếp tục giảm sâu

Đỗ Minh
Mặc cho tình hình Hy Lạp đang tạo ra bước ngoặt khủng hoảng nợ công gây chấn động nền kinh tế thế giới, tuy nhiên giá vàng vẫn “hỡ hững” và vẫn miệt mài đà giảm giá. Còn giá đồng USD tiếp tục tăng lên, trong đó tỷ VND/USD hiện tăng khoảng 5 - 10 đồng/USD so với cuối tuần qua.
aa

ty gia vangGiá vàng nối tiếp đà rớt giá thảm hại

Giá vàng trong nước chứng kiến chuỗi giảm giá mạnh và kéo dài suốt từ đầu tháng 5/2015 và lao dốc mạnh nhất từ đầu tháng 6/2015 đến nay. Riêng tính từ đầu tháng 7 đến nay, giá vàng SJC đã tiếp tục đánh mất tới 160 ngàn đồng/lượng.

Cụ thể, tại thời điểm cuối ngày 7/7, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giá trực tuyến của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn áp dụng tại TP. Hồ Chí Minh đứng ở mức 34,22 – 34,30 triệu đồng/lượng, tại Hà Nội và các địa phương khác đứng ở mức 34,22 – 34,32 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Cùng thời điểm trên, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giá trực tuyến của Tập đoàn DOJI áp dụng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh ở giao dịch lẻ đứng ở mức 34,24 – 34,28 triệu đồng/lượng, ở giao dịch buôn là 34,25 – 34,27 triệu đồng/lượng. Còn tại Đà nẵng, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giá trực tuyến của DOJI ở giao dịch buôn đứng ở mức 34,24 – 34,30 triệu đồng/lượng, ở giao dịch lẻ là 34,23 – 34,31 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Mức giá này hiện đang thấp hơn 20 ngàn đồng/lượng so với ngày đầu tuần (6/7) và giảm 50 ngàn đồng/lượng so với mức giá đóng cửa tuần trước (4/7). Trước đó, riêng trong tháng 6/2015 giá vàng SJC đã sụt giảm 510 ngàn đồng/lượng và tính từ đầu tháng 6 tới nay, giá vàng SJC đã ‘bốc hơi’ tới 670 ngàn đồng/lượng.

Còn trên thị trường thế giới, giá vàng sau khi tăng tăng lên khá cao trong ngày hôm qua (6/7) trên thị trường Mỹ, thì hiện tại đã lại quay đầu giảm xuống. Cụ thể, tại thời điểm 18 giờ 08 phút chiều 7/7 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay niêm yết trên sàn giao dịch Kitco của Singapore đang đứng ở mức 1.166,30 USD/ounce - mức giá thấp nhất trong vòng hơn 2 tháng qua, kể từ trung tuần tháng 4/2015 đến nay.

Qui đổi theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, giá vàng thế giới đang tương đương 30,69 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC bán ra tại TP. Hồ Chí Minh của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn khoảng 3,61 triệu đồng/lượng. Mức chênh lệch này đã giữ khá ổn định trong vòng 1 tháng trở lại đây, điều đó cho thấy, giá vàng trong nước vừa qua đã diễn biến bám sát với những diễn biến của giá vàng thế giới.

gia vang sjc
Giá vàng SJC nối dài đà trượt dốc từ đầu tháng 6 đến nay. Nguồn: sjc.com.vn

Từ lâu nay, vàng thể hiện là một mặt hàng “nhạy cảm” với những biến động lớn về địa chính trị và kinh tế trên thế giới. Trong những thời gian trước đây, khi những bất ổn về địa chính trị, xung đột vũ trang ở vùng Trung Đông, Ukraine hay ngay chính cả thời gian đầu của cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đều đã có những tác động tức thì đến giá vàng.

Tuy nhiên, kể từ đầu tháng 6/2015 tới nay, mặc cho cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp ngày càng xấu đi, thu hút mạnh sự quan tâm của dư luận quốc tế và giới đầu tư, nhưng giá vàng vẫn đều đặn “trượt dốc”. Hay nói cách khác, giá vàng dường như đã không được “hưởng lợi” đối với tình hình khủng hoảng nợ của Hy Lạp như thường thấy.

Diễn biến của giá vàng thế giới từ đầu tháng 7 tới nay cho thấy, mặc dù bước ngoặt để giải quyết vấn đề nợ cho Hy Lạp đã được định đoạt, khi người dân nước này đã hưởng ứng theo cách làm của Chính phủ và đã nói “không” trong cuộc trưng cầu dân ý và làm cho nền kinh tế Hy Lạp đứng bên bở vực thẳm, nhưng giá vàng vẫn tiếp tục xuống dốc.

Phải chăng vấn đề của Hy Lạp hiện nay không ảnh hưởng gì tới “bàn cờ” kinh tế thế giới? Thực ra thì không phải vậy, vì có thể thấy rằng, kết quả cuộc trưng cầu dân ý ngày 5/7 vừa qua đã đẩy Athens vào một tình cảnh chưa từng xảy ra trong lịch sử, đe dọa làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống tài chính của nước này.

Nếu hệ thống ngân hàng – tài chính của Hy Lạp “ngừng chạy” thì sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ cho kinh tế khối Eurozone, mà Hy Lạp là thành viên. Điều đó cũng sẽ làm “lây lan” ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế thế gới. Và khi thị trường tài chính, thị trường dầu… phản ứng tiêu cực với tình hình Hy Lạp, thì khi đó giá vàng vẫn có cơ hội để “hưởng lợi”.

Nhưng dường như chính vàng đang có một lực “đè” lớn hơn – đó là sức ép từ dự báo tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ tăng lãi suất vào khoảng tháng 9 tới đây.

Khi FED cho tăng lãi suất lên, thì đồng USD lại càng có giá trị hơn và điều đó lại làm cho vàng giảm sức hấp dẫn, bởi vàng được định giá và thanh toán bằng đồng USD. Cũng chính vì giới đầu tư dự đoán FED sẽ sớm tăng lãi suất, do đó nhân tố Hy Lạp đã ít có tác động tới giá vàng trong những ngày qua.

Bên cạnh đó, hiện châu Âu có để Hy Lạp vỡ nợ và rời khỏi khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu hay không vẫn còn phải chờ. Do vậy, giá vàng vẫn có thể sẽ có những biến động trong vài ngày tới đây trước khi các bên chủ nợ (gồm Liên minh châu Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu và Quỹ Tiền tệ Quốc tế) và Hy Lạp đưa ra quyết định cuối cùng.

Tỷ giá VND/USD tăng lên

Trong khi đồng USD tiếp tục có xu hướng tăng lên so với các đồng tiền chủ chốt khác trên thế giới, thì tỷ giá VND/USD cũng tăng lên từ 5 đến 10 đồng/USD so với mức tỷ giá cuối tuần qua.

Cụ thể, ở thời điểm đóng cửa giao dịch ngày 7/7, tỷ giá VND/USD niêm yết tại ngân hàng Vietcombank đứng ở mức 21.780 – 21.840 đồng/USD, còn BIDV và Vietinbank đứng ở mức 21.775 – 21.835 đồng/USD (mua vào – bán ra).

Còn tại ngân hàng HSBC tỷ giá VND/USD đang niêm yết ở mức 21.750 – 21.850 đồng/USD. Ngân hàng Techcombank đang niêm yết ở mức 21.755 – 21.845 đồng/USD; Ngân hàng Eximbank, VIB đang niêm yết tỷ giá VND/USD ở mức 21.760 – 21.840 đồng/USD.

Các ngân hàng như: ACB, TPBank niêm yết ở mức 21.755 – 21.835 đồng/USD; Ngân hàng SHB đang niêm yết ở mức 21.760 – 21.835 đồng/USD; Sacombank niêm yết ở mức 21.760 – 21.840 đồng/USD./.

Đỗ Minh

Đỗ Minh

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,300 13,500
Nguyên Liệu 99.9 13,250 13,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 14,600
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,790 14,490
Trang sức 99.99 13,800 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 25/06/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17978 18253 18872
CHF 31759 32140 32780
CNY 0 3825 3918
EUR 29232 29452 30533
GBP 33837 34226 35174
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14526 15114
SGD 19731 20013 20589
THB 703 766 820
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26451
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,131 26,131 26,451
USD(1-2-5) 25,086 - -
USD(10-20) 25,086 - -
EUR 29,452 29,476 30,808
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,153 34,245 35,343
AUD 17,873 17,938 18,573
CAD 18,188 18,246 18,871
CHF 32,095 32,195 33,058
SGD 19,898 19,960 20,698
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.73 16.4 17.8
THB 752.94 762.24 813.9
NZD 14,582 14,717 15,114
SEK - 2,658 2,745
DKK - 3,940 4,069
NOK - 2,639 2,726
LAK - 0.91 1.27
MYR 5,948.8 - 6,699.53
TWD 749.79 - 906.17
SAR - 6,902.31 7,252.78
KWD - 83,298 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,131 26,451
EUR 29,387 29,505 30,684
GBP 34,121 34,258 35,268
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,944 32,072 32,985
JPY 158.76 159.40 167.20
AUD 17,866 17,938 18,524
SGD 19,946 20,026 20,602
THB 771 774 809
CAD 18,191 18,264 18,824
NZD 14,667 15,197
KRW 16.42 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26135 26135 26451
AUD 17793 17893 18815
CAD 18151 18251 19262
CHF 32025 32055 33633
CNY 3806.4 3831.4 3966.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29432 29462 31184
GBP 34198 34248 36016
HKD 0 3355 0
JPY 159.28 159.78 170.32
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14649 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20755
THB 0 732.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,101 26,451
USD20 26,161 26,101 26,451
USD1 26,161 26,101 26,451
AUD 17,855 17,955 19,068
EUR 29,588 29,588 30,997
CAD 18,103 18,203 19,509
SGD 19,986 20,136 20,699
JPY 159.78 161.28 165.85
GBP 34,123 34,473 35,345
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80