UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP lên 7% song lưu ý những rủi ro năm 2025

Ánh Tuyết
Trong dự báo về triển vọng kinh tế công bố ngày 9/1, Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam lên 7% từ mức 6,6% nhờ kỳ vọng vào sự chuyển biến nhiều nhân tố. Đồng thời, lưu ý những rủi ro đến từ triển vọng thương mại không chắc chắn nửa cuối năm và sự suy yếu VND năm thứ 4 liên tiếp.
aa

Năm 2025, Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng 6,5-7%, trong khi Chính phủ đưa ra mục tiêu phấn đấu cao hơn, tăng trưởng ít nhất 8%, nhằm tăng tốc và bứt phá để đạt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nhiệm kỳ 2021-2025. Mục tiêu này có vẻ khá tham vọng, nhưng nhóm phân tích từ Ngân hàng UOB cho rằng vẫn có những dư địa để đạt được.

Rủi ro từ triển vọng thương mại không chắc chắn

Dựa trên động lực mạnh mẽ được tiếp nối từ năm 2024 kết hợp với việc xem xét những rủi ro và tác động ngược từ các cuộc xung đột thương mại sắp tới từ chính quyền mới của Hoa Kỳ, Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam vào năm 2025 lên 7%, trước đó là 6,6%.

"Chúng tôi kỳ vọng về những chuyển biến tích cực từ các động lực trong nước như: sản xuất, chi tiêu của người tiêu dùng và lượng khách du lịch sẽ đóng góp vào các hoạt động, đặc biệt là trong nửa đầu năm" - Ngân hàng UOB nêu rõ.

Theo nhóm chuyên gia từ UOB, sự không chắc chắn về triển vọng thương mại sẽ là rủi ro lớn đối với Việt Nam trong nửa cuối năm, với sự phụ thuộc ngày càng tăng vào xuất khẩu, đã tăng lên mức cao kỷ lục là hơn 400 tỷ USD vào năm 2024, gần bằng quy mô GDP danh nghĩa của Việt Nam (450 tỷ USD). Ở góc nhìn tích cực, Ngân hàng UOB đặt nhiều kỳ vọng vào việc chính phủ Hoa Kỳ sẽ áp dụng chính sách thuế quan bổ sung theo cách có tính toán và linh hoạt hơn.

GDP của Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng mạnh mẽ trong quý IV/2024, đạt mức 7,55% so với cùng kỳ năm trước từ mức 7,43% đã điều chỉnh trong quý III/2024. "Con số này cao hơn nhiều so với mức dự báo trung bình của thị trường là 6,7% và dự báo của chúng tôi là 5,2%" - chuyên gia UOB cho biết.

Với hiệu suất mạnh mẽ đáng ngạc nhiên trong ba quý vừa qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng 7,09% trong năm 2024 so với mức 5,1% trong năm 2023, vượt qua mức dự báo chung của thị trường là 6,7% và mục tiêu chính thức là 6,5%. Đây là mức tăng trưởng tốt nhất kể từ khi phục hồi sau Covid-19 vào năm 2022 (8,1%).

Lĩnh vực sản xuất và dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng chính, trong khi hoạt động ngoại thương vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ trong suốt năm 2024. Sự gia tăng doanh số ngành bán dẫn kể từ giữa năm 2023 cho thấy đà tăng trưởng có khả năng sẽ tiếp tục trong 1-2 quý tới.

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP lên 7% song lưu ý những rủi ro năm 2025
Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP lên 7% và lưu ý những rủi ro năm 2025.

Hoạt động ngoại thương tăng tốc là lý do chính cho tăng trưởng mạnh mẽ của Việt Nam. Xuất khẩu tăng trong 10 tháng qua, riêng tháng 12 đạt mức tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, tăng trưởng cả năm là 14%, đối lập với mức giảm 4,6% vào năm 2023. Trong khi đó, nhập khẩu tăng 16,1% vào năm 2024.

Thặng dư thương mại khoảng 23,9 tỷ USD, lớn thứ hai sau mức cao kỷ lục 28,4 tỷ USD vào năm 2023. Đây là năm thứ chín liên tiếp Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại hàng năm, điều này sẽ hữu ích trong việc neo giữ tỷ giá cho đồng VND.

VND đã suy yếu ba năm liên tiếp và tiếp tục chịu sức ép

Dự báo về việc điều hành chính sách tiền tệ năm 2025, UOB cho rằng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục giữ nguyên lãi suất trong thời điểm hiện tại. Với lạm phát chung và lạm phát cơ bản vẫn ở mức dưới mục tiêu chính thức là 4,5% trong năm 2024, đặc biệt là vào cuối năm, điều này mở ra khả năng cho NHNN nới lỏng lập trường chính sách của mình.

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP lên 7% song lưu ý những rủi ro năm 2025

Tuy nhiên, tỷ giá hiện là một vấn đề cần cân nhắc khác đối với NHNN và nhiều khả năng NHNN sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách để chống lại áp lực mất giá đối với đồng nội tệ. Với sự không chắc chắn trong tương lai về chu kỳ điều chỉnh lãi suất chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) và căng thẳng địa chính trị, thương mại sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Trump nhậm chức, Ngân hàng UOB kỳ vọng NHNN sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách, với lãi suất tái cấp vốn được giữ ở mức 4,5%.

Cũng theo Ngân hàng UOB, VND đã suy yếu so với USD, cùng với các loại tiền tệ châu Á khác, kể từ cuối quý III/2024 trong bối cảnh cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ đang diễn ra căng thẳng. Kết thúc năm 2024, VND ở mức thấp kỷ lục là 25.485 VND/USD, giảm 5% trong cả năm và là mức giảm năm thứ ba liên tiếp.

Báo cáo chiến lược tỷ giá và ngoại hối hàng tháng mới nhất của UOB công bố vào tháng 1/2025 đã nêu bật triển vọng đồng USD sẽ mạnh hơn nữa trong nửa đầu năm 2025, sau sự trở lại của Donald Trump với vị trí là Tổng thống Hoa Kỳ và rất nhiều bất ổn về chính sách mà ông sẽ thực hiện trong nhiệm kỳ thứ hai của mình kể từ ngày 20/1. VND vẫn dễ bị tổn thương trước các yếu tố bên ngoài như chính sách lãi suất của FED.

Thị trường cũng điều chỉnh lại dự báo với ít đợt cắt giảm lãi suất của FED trong nhiệm kỳ Trump 2.0, có nghĩa là sức mạnh của đồng USD sẽ tiếp tục được hỗ trợ. VND có khả năng sẽ chịu ảnh hưởng từ chính sách thuế quan của Trump và xu hướng của đồng Nhân dân tệ.

Căng thẳng tỷ giá USD/VND đẩy lên đỉnh điểm vào quý III/2025

"Với những bất lợi bên ngoài khó có thể biến mất trong thời gian ngắn, VND có khả năng sẽ tiếp tục giảm so với USD. Nhìn chung, chúng tôi dự báo tỷ giá USD/VND ở mức 25.800 trong quý I/2025, 26.000 trong quý II/2025, 26.200 trong quý III/ 2025 và 26.000 trong quý IV/2025" - Ngân hàng UOB nhìn nhận.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

(TBTCO) - Báo cáo tài chính năm 2025 của Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh; mã Ck: BMI) ghi nhận ý kiến kiểm toán ngoại trừ, trong đó đáng chú ý khoản “tài sản thiếu chờ xử lý” có giá trị hơn 155,9 tỷ đồng.
Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 795/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính. Qua đó, chuẩn hóa quy trình, tăng tính minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia, hoạt động trên thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 5/4 không thay đổi so với phiên trước đó, với mức giá phổ biến quanh vùng 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Kim TT/AVPL 16,940 ▼80K 17,250 ▼70K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 ▼70K 17,240 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 15,500 ▼400K 15,700 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,450 ▼400K 15,650 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,620 ▼130K 17,020 ▼130K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,570 ▼130K 16,970 ▼130K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,500 ▼130K 16,950 ▼130K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,900 ▼90K 17,200 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,900 ▼90K 17,200 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,900 ▼90K 17,200 ▼90K
NL 99.90 15,500 ▼70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,530 ▼70K
Trang sức 99.9 16,390 ▼90K 17,090 ▼90K
Trang sức 99.99 16,400 ▼90K 17,100 ▼90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 ▼6K 17,252 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 ▼6K 17,253 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 ▼1527K 172 ▼1554K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 ▼1527K 1,721 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 ▼1509K 1,705 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 ▼594K 168,812 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 ▼450K 128,038 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 ▲96441K 116,102 ▲104451K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 ▼366K 104,165 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 ▼350K 99,561 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 ▼250K 71,256 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Cập nhật: 07/04/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17751 18024 18599
CAD 18387 18664 19281
CHF 32328 32711 33353
CNY 0 3470 3830
EUR 29819 30091 31118
GBP 34136 34526 35459
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19978 20260 20787
THB 725 788 842
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,975 29,999 31,239
JPY 160.82 161.11 169.81
GBP 34,362 34,455 35,427
AUD 17,943 18,008 18,574
CAD 18,624 18,684 19,255
CHF 32,668 32,770 33,529
SGD 20,131 20,194 20,865
CNY - 3,770 3,890
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 773.52 783.07 833.75
NZD 14,738 14,875 15,224
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,677 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,119.7 - 6,864.35
TWD 746.03 - 897.63
SAR - 6,916.72 7,241.88
KWD - 83,771 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26363
AUD 17926 18026 18952
CAD 18566 18666 19682
CHF 32576 32606 34193
CNY 3780 3805 3940.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30001 30031 31754
GBP 34439 34489 36247
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20138 20268 20999
THB 0 753.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,363
USD20 26,169 26,219 26,363
USD1 26,169 26,219 26,363
AUD 17,919 18,019 19,127
EUR 30,103 30,103 31,514
CAD 18,515 18,615 19,924
SGD 20,192 20,342 21,365
JPY 161.84 163.34 167.89
GBP 34,281 34,631 35,498
XAU 16,948,000 0 17,252,000
CNY 0 3,682 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/04/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80