Việt Nam có thêm trợ lực để giảm áp lực lên tỷ giá VND/USD

Thái Duy
(TBTCO) - Áp lực lên tỷ giá VND sẽ giảm do FED có thể bớt “diều hâu” hơn về chính sách tiền tệ sau vụ Silicon Valley Bank (SVB). Bên cạnh đó, sự cải thiện của cán cân thương mại và cán cân thanh toán của Việt Nam trong năm 2023 sẽ hỗ trợ tỷ giá đồng VND.
aa

Chỉ số DXY giảm do kỳ vọng FED sẽ có chính sách tiền tệ ôn hòa hơn

Theo SSI Research, thị trường tài chính toàn cầu đã ghi nhận nhiều biến động. Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) trong các phiên điều trần trước Thượng viện và Hạ viện Mỹ đã cho thấy quan điểm thận trọng của mình trong việc đối phó với lạm phát và nhấn mạnh chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục phụ thuộc vào các dữ liệu kinh tế. Trong đó, dữ liệu mới nhất chỉ ra rằng, kinh tế Mỹ mạnh hơn dự kiến, khiến cho đỉnh lãi suất có thể phải cao hơn kỳ vọng trước đây. Điều này đã khiến cho thị trường đặt nhiều kỳ vọng hơn về việc xác suất FED sẽ tăng 50 điểm cơ bản trong kỳ họp tháng 3 này. Tuy nhiên, sự kiện liên quan đến Silicon Valley Bank (SVB) đã tiếp tục khiến thị trường định giá lại xác suất FED tăng lãi suất trong kỳ họp tới đây. Đà tăng của đồng USD và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ đã bị đảo ngược và giảm.

Việt Nam có thêm trợ lực để giảm áp lực lên tỷ giá VND/USD
Thị trường hiện dự báo đỉnh của chu kỳ tăng lãi suất của FED ở mức 5 - 5,25%, thấp hơn so với mức 5,5 - 5,75% trước vụ SVB. Đồng thời, thị trường kỳ vọng FED có thể bắt đầu giảm lãi suất điều hành kể từ quý IV/2023, sớm hơn so với dự báo trước đó là vào quý I/2024.

Các chuyên gia của Công ty Chứng khoán VNDIRECT cũng cho rằng, sự sụp đổ mới đây của SVB đang đặt FED vào thế khó. Một mặt, FED vẫn chịu áp lực tăng lãi suất điều hành để kiểm soát lạm phát dai dẳng ở Mỹ. Mặt khác, môi trường lãi suất cao sẽ đặt các tổ chức tài chính vào tình thế nguy hiểm do giá trị tài sản thực thấp hơn nhiều so với giá trị sổ sách (do lãi suất cao hơn khiến giá trái phiếu giảm mạnh). Vì vậy, dẫu cho vẫn tin rằng FED sẽ tiếp tục tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát, thị trường hiện kỳ vọng FED sẽ bớt “diều hâu” hơn so với trước khi SVB sụp đổ.

Thị trường hiện dự báo đỉnh của chu kỳ tăng lãi suất của FED ở mức 5 - 5,25%, thấp hơn so với mức 5,5 - 5,75% trước vụ SVB. Đồng thời, thị trường kỳ vọng FED có thể bắt đầu giảm lãi suất điều hành kể từ quý IV/2023, sớm hơn so với dự báo trước đó là vào quý I/2024.

Cũng theo thông tin từ VNDIRECT, chỉ số đồng USD (DXY) giảm mạnh sau sự sụp đổ của SVB do thị trường kỳ vọng FED sẽ ôn hòa hơn trong chính sách tiền tệ. Tính đến ngày 13/3/2023, DXY giảm còn 104,0 điểm, giảm 1,3% sau sự sụp đổ của SVB. Trong số các đồng tiền trong khu vực, đồng USD đã mất giá so với Nhân dân tệ của Trung Quốc (-0,3% so với đầu năm), Rupiah của Indonesia (-1,3% so với đầu năm) và Peso của Philippines (-1,4% so với đầu năm).

Việt Nam có nhiều yếu tố hỗ trợ tỷ giá

Chuyên gia của VNDIRECT cho biết, việc USD giảm trên thị trường quốc tế đã góp phần giảm áp lực lên tỷ giá VND. Tính đến ngày 13/3/2023, DXY giảm đã khiến tỷ giá USD/VND giảm 0,1% so với đầu năm xuống 23.612 đồng/USD.

Các chuyên gia của VNDIRECT duy trì quan điểm tỷ giá USD/VND sẽ dao động trong khoảng 23.400 - 23.800 đồng/USD vào cuối năm 2023.

“Chúng tôi kỳ vọng áp lực lên tỷ giá VND sẽ giảm do FED có thể bớt “diều hâu” hơn về chính sách tiền tệ sau vụ SVB. Chỉ số DXY khó có thể quay lại mức đỉnh cũ trên 114 điểm và có thể sẽ dao động trong khoảng 102 - 106 điểm trong thời gian còn lại của năm 2023. Bên cạnh đó, sự cải thiện của cán cân thương mại và cán cân thanh toán của Việt Nam trong năm 2023 sẽ hỗ trợ tỷ giá đồng VND. Chúng tôi duy trì quan điểm tỷ giá USD/VND sẽ dao động trong khoảng 23.400 - 23.800 đồng/USD vào cuối năm 2023” - chuyên gia của VNDIRECT dự báo.

Việt Nam có thêm trợ lực để giảm áp lực lên tỷ giá VND/USD

Các chuyên gia của Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) cho biết thêm, việc FED sớm kết thúc lộ trình tăng lãi suất vào cuối quý II/2023, được kỳ vọng sẽ hỗ trợ cho chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước, khi đồng USD lao dốc (tham chiếu theo chỉ số DXY), giảm bớt áp lực tỷ giá. Nếu xu hướng điều chỉnh tiếp diễn có có thể tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước mua vào USD gia tăng dự trữ ngoại hối và nới lỏng cung tiền M2.

SSI Research cũng cho biết, diễn biến tỷ giá trong nước tiếp tục hạ nhiệt trong phiên ngày 13/3 sau những thông tin về ngân hàng SVB được công bố. “Điểm tích cực hỗ trợ tỷ giá đến từ nguồn cung ngoại tệ, với việc cán cân thương mại ước tính thặng dư tới 3,4 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm, hay việc Việt Nam nằm trong danh sách các quốc gia được cấp phép du lịch theo đoàn từ Trung Quốc” - chuyên gia của SSI Research cho hay.

Tuy nhiên, theo chuyên gia của VNDIRECT, rủi ro đối với tỷ giá vẫn còn khi chỉ số DXY mạnh hơn dự kiến có thể gây thêm áp lực lên tỷ giá hối đoái của Việt Nam.

“Các thị trường đang đặt kỳ vọng cao vào kịch bản FED chỉ tăng lãi suất điều hành thêm 50 điểm cơ bản. Tuy nhiên, nếu vì một lý do nào đó, chẳng hạn như lạm phát cao hơn dự báo hoặc tăng trưởng tiền lương cao hơn dự kiến, thì có khả năng FED sẽ tăng lãi suất điều hành cao hơn so với kỳ vọng của thị trường. Điều này có thể khiến chỉ số DXY mạnh lên và gây thêm áp lực lên tỷ giá VND” - chuyên gia của VNDIRECT phân tích./.

Thái Duy

Đọc thêm

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank chốt ngày 7/10/2026 để cổ đông thực hiện quyền mua 150 triệu cổ phiếu đợt 1 với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, với tỷ lệ 20,472%. Đây là bước đầu trong kế hoạch phát hành hơn 267 triệu cổ phiếu, qua đó, đưa vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng, hiện thực hóa mục tiêu ngân hàng theo đuổi nhiều năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 26/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 26/09/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30