Agribank tập trung tăng trưởng tín dụng gắn với đảm bảo chất lượng

(TBTCO) - Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các chi nhánh, tăng khả năng cạnh tranh và cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng, Agribank vừa tổ chức chương trình làm việc với các chi nhánh nhằm tập trung tăng trưởng tín dụng gắn với đảm bảo chất lượng tín dụng tại các chi nhánh trên địa bàn Hà Nội.
aa
Agribank tài trợ xây dựng Trường mầm non xã Đồng Phong - Nho Quan - Ninh Bình Agribank triển khai cho vay trả nợ trước hạn tổ chức tín dụng khác Agribank đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp phát triển kinh tế

Xây dựng cơ chế khen thưởng cán bộ phù hợp

Ngày 18/2/2025, Phó Tổng Giám đốc Agribank Đỗ Đức Thành chủ trì chương trình làm việc với các Chi nhánh Hà Tây, Hà Tây I, Thanh Trì, Hà Nội II, Thường Tín, Trung Yên, Gia Lâm, Tây Đô tại Hà Nội. Tham dự còn có đại diện lãnh đạo các Ban/Trung tâm của Trụ sở chính, đại diện các chi nhánh tại 8 điểm cầu trực tuyến.

Tại chương trình, Phó Tổng Giám đốc Đỗ Đức Thành nhấn mạnh, chương trình làm việc nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh ngay từ những ngày đầu năm của các chi nhánh. Nội dung trọng tâm gồm kết quả thực hiện đến tháng 1/2025, cam kết chỉ tiêu kế hoạch trong quý I/2025 và các quý tiếp theo, đặc biệt là các chỉ tiêu quan trọng về dư nợ, thu hồi nợ xử lý rủi ro, tài chính. Chương trình đồng thời xác định rõ trách nhiệm của từng đơn vị, lãnh đạo và cán bộ trong tổ chức thực hiện.

Agribank tập trung tăng trưởng tín dụng gắn với đảm bảo chất lượng
Phó Tổng Giám đốc Agribank Đỗ Đức Thành chủ trì chương trình làm việc tại 8 chi nhánh trên địa bàn Hà Nội.

Tại chương trình làm việc, các chi nhánh báo cáo tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh đến hết tháng 1/2025, đề xuất, kiến nghị và đưa ra nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc nhằm hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Theo đó, các kiến nghị tập trung vào việc triển khai các cơ chế miễn, giảm lãi suất để hỗ trợ thu hồi nợ, đặc biệt với các khoản nợ cũ; cho phép chủ động gia hạn hạn mức tín dụng đối với khách hàng nhằm rút ngắn thời gian xét duyệt; tăng hạn mức thấu chi trên cơ sở đáp ứng được điều kiện đảm bảo để tạo thuận lợi trong cấp tín dụng.

Đại diện các chi nhánh cũng đưa ra đề xuất về nâng cao tính linh hoạt trong mua bán vốn, cải thiện chính sách định giá tài sản để tối ưu thời gian và chi phí, điều chỉnh lãi suất cạnh tranh, xây dựng cơ chế khen thưởng cán bộ phù hợp và xem xét mở thêm phòng giao dịch tại các chi nhánh có nhu cầu mở rộng hoạt động.

Agribank tập trung tăng trưởng tín dụng gắn với đảm bảo chất lượng
Đại diện chi nhánh báo cáo tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh những tháng đầu năm 2025.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các chi nhánh, tăng khả năng cạnh tranh và cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng, các Ban/Trung tâm tại Trụ sở chính thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các chi nhánh trong việc triển khai các chương trình tín dụng cùng các cơ chế chính sách và định hướng điều hành.

Đồng thời, làm rõ nội dung kiến nghị, báo cáo, đề xuất phương án giải quyết theo quy định. Trên cơ sở đó, các chi nhánh sẽ đánh giá kế hoạch kinh doanh tài chính trong năm 2025 sát với tình hình cùng chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng, huy động vốn và quản lý rủi ro để mở rộng khách hàng và giữ vững được thị phần.

Gắn kết quả thực hiện với công tác đánh giá, xếp loại lao động

Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Tổng Giám đốc Đỗ Đức Thành nhấn mạnh, Đảng ủy, Ban lãnh đạo Chi nhánh cần nghiêm túc tổ chức triển khai thực hiện, bám sát định hướng của Hội đồng thành viên, chỉ đạo của Tổng Giám đốc các văn bản liên quan. Giao khoán các chỉ tiêu kế hoạch từ Ban lãnh đạo đến Chi nhánh loại II, phòng nghiệp vụ, Phòng giao dịch, cá nhân người lao động; cam kết thực hiện trong quý I, II, III/2025 và năm 2025, đặc biệt các chỉ tiêu trọng yếu, trách nhiệm cụ thể của đơn vị, lãnh đạo, cán bộ được phân công thực hiện; gắn kết quả thực hiện với công tác đánh giá, xếp loại lao động, chi lương định kỳ và công tác quy hoạch, bổ nhiệm theo thẩm quyền.

Phó Tổng Giám đốc cũng lưu ý các chi nhánh phải quan tâm tập trung thực hiện tăng trưởng tín dụng gắn với đảm bảo chất lượng tín dụng ngay từ những ngày đầu năm, quản lý, giám sát các khoản cấp tín dụng đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật, NHNN, Agribank. Cùng với đó, cần xây dựng phương án xử lý nợ chi tiết, biện pháp xử lý, thu hồi phải rõ ràng, linh hoạt, nguồn thu nợ cụ thể, khả thi.

Agribank tập trung tăng trưởng tín dụng gắn với đảm bảo chất lượng
Đại diện các đơn vị trụ sở chính phát biểu tại chương trình làm việc.

Đối với công tác huy động vốn và phát triển dịch vụ, các chi nhánh hoạt động huy động vốn tốt theo địa bàn chủ động giữ ổn định nguồn vốn hiện tại, tiếp tục phát huy tăng trưởng nguồn vốn góp phần đảm bảo mục tiêu huy động vốn toàn hệ thống. Tập trung khai thác các sản phẩm, tiện ích hiện có theo danh mục sản phẩm của Agribank, tích cực triển khai các sản phẩm dịch vụ mới, sản phẩm có thế mạnh, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của khách hàng để tăng thu dịch vụ bền vững, thực chất.

Bên cạnh đó, phải triển khai đầy đủ, tuân thủ các quy định của Bộ Tài chính, NHNN, cơ quan thuế, Agribank liên quan công tác tài chính, thuế, thu, nộp ngân sách nhà nước; thực hiện nghiêm túc kế hoạch kiểm tra, giám sát theo quy định hiện hành của Agribank, nghiêm túc khắc phục, xử lý dứt điểm các tồn tại; chủ động, nghiêm túc thực hiện các quy định về công tác phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, phòng ngừa rủi ro hoạt động; đánh giá hiệu quả hoạt động các Phòng giao dịch, sự phù hợp địa điểm kinh doanh gồm Hội sở chi nhánh; đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng gắn với cơ chế giao khoán; quan tâm, thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với người lao động…

Phó Tổng Giám đốc Đỗ Đức Thành nhấn mạnh, năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Agribank, là năm cuối cùng để hoàn thành Phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025.

Do đó, các đơn vị tại Trụ sở chính, chi nhánh, tuân thủ kỷ luật điều hành, nghiêm chỉnh chấp hành các nội dung chỉ đạo của Ban điều hành, tổ chức triển khai, hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ kinh doanh được NHNN, Hội đồng thành viên giao, hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu của Phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025./.

Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - OCB vừa chốt ngày 1/7 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ 15%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành gần 399,46 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm gần 4.000 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng, củng cố năng lực tài chính và nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,730 15,030
Kim TT/AVPL 14,730 15,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,730 15,030
Nguyên Liệu 99.99 13,850 14,050
Nguyên Liệu 99.9 13,800 14,000
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,550 14,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,500 14,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,430 14,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,830 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,830 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,830 15,130
NL 99.90 13,750
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 19/06/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17905 18179 18758
CAD 18105 18380 18999
CHF 32096 32478 33127
CNY 0 3847 3940
EUR 29536 29757 30838
GBP 34007 34397 35346
HKD 0 3228 3430
JPY 156 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14847 15434
SGD 19847 20129 20710
THB 718 781 834
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,845 29,869 31,222
JPY 159.52 159.81 169.05
GBP 34,469 34,562 35,672
AUD 18,199 18,265 18,908
CAD 18,330 18,389 19,021
CHF 32,583 32,684 33,560
SGD 20,041 20,103 20,844
CNY - 3,821 3,958
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.9 16.58 18
THB 769.42 778.92 831.73
NZD 14,933 15,072 15,478
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,993 4,124
NOK - 2,696 2,785
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,011.37 - 6,771.77
TWD 753.5 - 910.67
SAR - 6,900.43 7,250.85
KWD - 83,423 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26149 26149 26431
AUD 18119 18219 19142
CAD 18284 18384 19398
CHF 32386 32416 34006
CNY 3828.3 3853.3 3988.4
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29767 29797 31520
GBP 34362 34412 36165
HKD 0 3355 0
JPY 160.19 160.69 171.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14980 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20022 20152 20880
THB 0 748.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14850000 14850000 15150000
SBJ 13500000 13500000 15150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,144 26,194 26,431
USD20 26,144 26,194 26,431
USD1 26,144 26,194 26,431
AUD 18,201 18,301 19,409
EUR 29,987 29,987 31,394
CAD 18,252 18,352 19,658
SGD 20,127 20,277 20,840
JPY 160.82 162.32 166.88
GBP 34,371 34,721 35,600
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/06/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80