Agribank đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp phát triển kinh tế

Văn Tuấn
(TBTCO) - Để có điều kiện giảm lãi suất cho vay hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phát triển kinh tế, Agribank đã điều hành tài sản/nợ phải trả linh hoạt chủ động, tập trung vào việc cơ cấu, đa dạng hóa nguồn vốn, đẩy mạnh tăng trưởng nguồn vốn có chi phí thấp. Trên cơ sở tiết giảm chi phí, năm 2024, Agribank đã 4 lần điều chỉnh giảm sàn lãi suất cho vay với mức giảm từ 1,0% - 2,5%/năm.
aa
Agribank đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp phát triển kinh tế
Agribank triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Ảnh: Agribank

Tiên phong triển khai các giải pháp hỗ trợ

Nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), phát huy trách nhiệm của ngân hàng thương mại giữ vai trò chủ lực trên thị trường tài chính, Agribank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho nền kinh tế.

Đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng hiệu quả

Với các chính sách đồng bộ được triển khai, Agribank mong muốn đồng hành, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu đời sống và sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế. Agribank tiếp tục bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, đồng thời triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.

Năm 2024, để có điều kiện giảm lãi suất cho vay, Agribank đã điều hành tài sản/nợ phải trả linh hoạt, chủ động, tập trung vào việc cơ cấu, đa dạng hóa nguồn vốn, đẩy mạnh tăng trưởng nguồn vốn có chi phí thấp như tiền gửi CASA, tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi USD…

Cùng với giảm chi phí đầu vào, Agribank triển khai nhiều giải pháp tiết giảm chi phí, trong đó tập trung thu hồi nợ xấu, khai thác và quản lý tài sản hiệu quả, nâng cao năng suất lao động (tối ưu hóa hoạt động nội bộ, tăng cường ứng dụng công nghệ), kiểm soát chặt chẽ chi phí thường xuyên… để dành nguồn lực, điều kiện tối đa giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng.

Trên cơ sở tiết giảm chi phí, năm 2024, Agribank đã 4 lần điều chỉnh giảm sàn lãi suất cho vay với mức giảm từ 1,0% - 2,5%/năm. Theo đó, lãi suất cho vay bình quân của Agribank thời điểm cuối năm 2024 đã giảm khoảng 1,5%/năm so với đầu năm - giảm sâu hơn so với tốc độ giảm bình quân toàn hệ thống ngân hàng. Sàn lãi suất cho vay thông thường của Agribank chỉ từ 5,0%/năm đối với ngắn hạn và từ 7,0%/năm đối với trung, dài hạn.

Agribank đồng thời thực hiện chính sách giảm lãi suất cho vay các đối tượng theo định hướng của Chính phủ, NHNN. Theo đó, Agribank thực hiện cho vay trung, dài hạn phục vụ đầu tư phát triển với mức lãi suất cố định đến 24 tháng chỉ từ 5,5%/năm; triển khai đa dạng chương trình tín dụng ưu đãi tổng quy mô 475.000 tỷ đồng với lãi suất cho vay bình quân thấp hơn từ 2%-3%/năm so với lãi suất thông thường dành cho đối tượng khách hàng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp lớn, xuất nhập khẩu…

Trong năm 2024, Agribank chủ động, linh hoạt cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế và phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, tập trung cho 3 động lực tăng trưởng chính là tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và ưu tiên 5 lĩnh vực mũi nhọn bao gồm xuất khẩu, nông nghiệp, công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ. Agribank là ngân hàng chủ lực trong triển khai 7 chương trình tín dụng chính sách và 3 chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, đề án, chính sách tín dụng theo chủ trương của Chính phủ, NHNN đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản, chương trình tín dụng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo lại chung cư cũ…

Gần đây nhất là Đề án 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Agribank là ngân hàng chủ lực triển khai cho vay trong giai đoạn thí điểm đến hết năm 2025 và tiếp tục triển khai chương trình đến hết năm 2030, hỗ trợ giảm lãi suất tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay của kỳ hạn tương ứng đang áp dụng theo từng đối tượng khách hàng, đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của tất cả các khâu (sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ) trong liên kết lúa gạo, góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam trong việc phát triển nông nghiệp xanh, bền vững…

Đồng hành hỗ trợ người dân và doanh nghiệp

Cũng trong năm 2024, Agribank đã giảm trực tiếp lãi suất cho vay đối với dư nợ hiện hữu và phát sinh từ ngày 26/3/2024 của 1,6 triệu khách hàng với tổng dư nợ được giảm lãi suất lên đến 170.000 tỷ đồng, số tiền hỗ trợ giảm lãi gần 1.000 tỷ đồng.

Không chỉ đồng hành phát triển sản xuất kinh doanh, trong những giai đoạn khó khăn của người dân, doanh nghiệp, Agribank luôn là ngân hàng tiên phong triển khai kịp thời các giải pháp hỗ trợ. Trước những thiệt hại nặng nề của khách hàng do siêu bão số 3 và lũ lụt vừa qua, Agribank đã nhanh chóng triển khai các giải pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thực hiện giảm lãi suất cho vay đối với hơn 21.000 khách hàng, tổng dư nợ trên 16.000 tỷ đồng; cho vay mới ưu đãi lãi suất hơn 2.300 khách hàng, tổng dư nợ hơn 3.800 tỷ đồng…

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, NHNN triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn, gia tăng khả năng tiếp cận vốn của người dân, doanh nghiệp, ngay từ đầu năm 2025, Agribank đã triển khai rất nhiều chương trình tín dụng ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp và cá nhân với tổng quy mô 320.000 tỷ đồng.

Cụ thể, đối với khách hàng doanh nghiệp, Agribank dành hơn 210.000 tỷ đồng vốn tín dụng ưu đãi cùng nhiều ưu đãi về lãi suất tiền gửi, phí dịch vụ và tỷ giá mua bán ngoại tệ, áp dụng từ ngày 01/01/2025 đến hết ngày 31/12/2025. Có thể kể đến chương trình tín dụng 5.000 tỷ đồng và 100 triệu USD thúc đẩy tăng trưởng doanh nghiệp FDI; 35.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu; 80.000 tỷ đồng vốn ưu đãi ngắn hạn tài trợ hoạt động của các doanh nghiệp lớn; 60.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và 30.000 tỷ đồng vốn trung dài hạn tài trợ doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư.

Đối với khách hàng cá nhân, Agribank cũng đang triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi với tổng quy mô trên 110.000 tỷ đồng, dành cho khách hàng vay tiêu dùng hỗ trợ nhu cầu đời sống, vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và hướng đến tín dụng xanh.

Agribank sẵn sàng cung cấp đầy đủ sản phẩm tín dụng tới tất cả đối tượng khách hàng

Dự báo năm 2025 là một năm đầy biến động với sự thay đổi về chính sách, quan hệ thương mại của các nước lớn trên thế giới, ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hành chính sách tiền tệ. Theo đó, Agribank đã sớm triển khai, xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2025, tiếp tục cung cấp đầy đủ các sản phẩm tín dụng tới tất cả đối tượng khách hàng với mục tiêu dư nợ tăng thêm trong năm 2025 khoảng 200.000 tỷ đồng (tương đương mức tăng trưởng 13%).

Phát biểu tại Hội nghị Thường trực Chính phủ làm việc với các ngân hàng thương mại diễn ra sáng ngày 11/02/2025 do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì, Tổng Giám đốc Agribank Phạm Toàn Vượng cho biết, phát huy vai trò ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước, chủ lực cung ứng vốn và dịch vụ tài chính cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Agribank luôn quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, tiên phong, gương mẫu triển khai các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, phục hồi sản xuất kinh doanh.

Kết thúc năm 2024, Agribank hoàn thành toàn diện và vượt mức các chỉ tiêu kinh doanh được NHNN giao, là năm đạt kết quả cao nhất sau 4 năm thực hiện Phương án cơ cấu lại giai đoạn 2021 - 2025, trong đó tổng tài sản đạt trên 2,2 triệu tỷ đồng (tăng gần 10%), huy động vốn vượt mốc 2 triệu tỷ đồng (tăng 7,6%), tín dụng đạt 1,72 triệu tỷ đồng (tăng 170 ngàn tỷ đồng, tương đương 11%). Nộp ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2024 đạt trên 47 nghìn tỷ đồng, Agribank được Quốc hội, Chính phủ cấp bổ sung 17.100 tỷ đồng vốn điều lệ, góp phần nâng cao năng lực tài chính. Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, góp phần đảm bảo tăng trưởng kinh tế đạt 8% trở lên trong năm 2025, Agribank đã sớm triển khai, xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2025, tiếp tục cung cấp đầy đủ các sản phẩm tín dụng tới tất cả đối tượng khách hàng với mục tiêu dư nợ tăng thêm trong năm 2025 khoảng 200.000 tỷ đồng (tương đương mức tăng trưởng 13%)./.

Văn Tuấn

Đọc thêm

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - OCB vừa chốt ngày 1/7 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ 15%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành gần 399,46 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm gần 4.000 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng, củng cố năng lực tài chính và nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,730 15,030
Kim TT/AVPL 14,730 15,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,730 15,030
Nguyên Liệu 99.99 13,850 14,050
Nguyên Liệu 99.9 13,800 14,000
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,550 14,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,500 14,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,430 14,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,830 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,830 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,830 15,130
NL 99.90 13,750
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 19/06/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17905 18179 18758
CAD 18105 18380 18999
CHF 32096 32478 33127
CNY 0 3847 3940
EUR 29536 29757 30838
GBP 34007 34397 35346
HKD 0 3228 3430
JPY 156 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14847 15434
SGD 19847 20129 20710
THB 718 781 834
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,845 29,869 31,222
JPY 159.52 159.81 169.05
GBP 34,469 34,562 35,672
AUD 18,199 18,265 18,908
CAD 18,330 18,389 19,021
CHF 32,583 32,684 33,560
SGD 20,041 20,103 20,844
CNY - 3,821 3,958
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.9 16.58 18
THB 769.42 778.92 831.73
NZD 14,933 15,072 15,478
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,993 4,124
NOK - 2,696 2,785
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,011.37 - 6,771.77
TWD 753.5 - 910.67
SAR - 6,900.43 7,250.85
KWD - 83,423 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26149 26149 26431
AUD 18119 18219 19142
CAD 18284 18384 19398
CHF 32386 32416 34006
CNY 3828.3 3853.3 3988.4
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29767 29797 31520
GBP 34362 34412 36165
HKD 0 3355 0
JPY 160.19 160.69 171.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14980 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20022 20152 20880
THB 0 748.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14850000 14850000 15150000
SBJ 13500000 13500000 15150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,144 26,194 26,431
USD20 26,144 26,194 26,431
USD1 26,144 26,194 26,431
AUD 18,201 18,301 19,409
EUR 29,987 29,987 31,394
CAD 18,252 18,352 19,658
SGD 20,127 20,277 20,840
JPY 160.82 162.32 166.88
GBP 34,371 34,721 35,600
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/06/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80