Áp lực tỷ giá làm triển vọng giảm lãi suất trở nên khó khăn hơn

Duy Thái
Cuối tháng 3/2015, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN với mục tiêu điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn từ 1% - 1,5% trong năm nay. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, trong bối cảnh hiện tại, triển vọng giảm lãi suất đang trở nên khó khăn hơn.
aa

>> Chính phủ yêu cầu giảm lãi suất cho vay trung, dài hạn thêm 1

>> Thông tư 36 có giúp ngân hàng đảo nợ xấu thành nợ dài hạn?

>> Liệu VAMC đã đủ lực xử lý nợ xấu?

Tỷ giá sẽ “kiềm chế” được bao lâu?

Báo cáo vừa mới phát hành của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) đã đánh giá cao việc điều chỉnh tỷ giá 1% của NHNN hồi đầu năm nay. Theo đó, tỷ giá được điều chỉnh sớm ngay từ đầu năm đã ổn định được thị trường ngoại hối trong nước. BSC cho rằng, biên độ 1% trên tương đối hợp lý bởi tính tới thời điểm hiện tại đã đủ để dung hòa được biến động tăng giá mạnh của USD trong quý I vừa qua.

BSC dự đoán, tỷ giá USD/VND trong quý II/2015 vẫn giữ được sự ổn định tương đối, dù cho thị trường ngoại hối có thể sẽ là thị trường “nóng” nhất trong thời gian tới. Tuy nhiên, trước sức ép USD quốc tế gia tăng mạnh, NHNN gần như chắc chắn sẽ phải can thiệp bán ra USD, nhằm cân bằng cung-cầu trên thị trường ngoại hối.

Xét trên quy mô quốc tế, giá trị USD dường như đã ổn định sau khi tăng nóng quý qua, phần là do thông tin kinh tế vĩ mô Hoa Kỳ không khả quan như các quý trước, phần còn lại nằm ở sự bớt bi quan về các nền kinh tế khác mà ví dụ gần đây nhất là Eurozone thu hẹp tốc độ giảm phát.

Xét trên quy mô trong nước, bức tranh ngoại hối Việt Nam chưa có điều bất thường. Nguồn cung ngoại hối hiện tại được đánh giá là ổn định, dự trữ ngoại hối ở mức khá, khoảng 36 tỷ USD.

“Việc điều chỉnh tỷ giá trong các quý tới cũng không loại trừ, nhiều khả năng NHNN sẽ cố gắng điều chỉnh vào nửa sau của năm 2015”, Bao cáo của BSC nhận định.

Triển vọng giảm lãi suất khó hơn

Mặt bằng lãi suất huy động trong 3 tháng đầu năm được điều chỉnh giảm nhẹ. So với thời điểm cuối năm 2014, lãi suất huy động giảm nhẹ từ 0,1% - 0,5% tùy từng kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất huy động của các ngân hàng đối với tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng nằm ở mức 6,4 - 7,2%/năm; kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 5,4-6,5%/năm; kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,5-5,4%/năm; dưới 01 tháng hoặc không kỳ hạn vẫn ở mức 0,8-1%/năm. Lãi suất huy động USD không đổi, vẫn ở mức 0,75%/năm đối với dân cư và 0,25% đối với tổ chức.

giảm lãi suất

Trong bối cảnh hiện tại, triển vọng giảm lãi suất đang trở nên khó khăn hơn. Ảnh: ST

Trong khi đó, mặt bằng lãi suất cho vay giảm rất ít. Trong đó, lãi suất ngắn hạn hầu như giữ nguyên trong khi lãi suất trung và dài hạn chỉ giảm nhẹ khoảng 0,5% và chủ yếu tại các ngân hàng thương mại nhà nước. Mặt bằng lãi suất cho vay USD không đổi, vẫn ở mức quanh 3 – 6% trong ngắn hạn và 5,5 – 7% trung và dài hạn.

Trong quý I/2015, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN nhằm chỉ đạo giảm mặt bằng lãi suất trung và dài hạn. Lãnh đạo cơ quan quản lý ngành Ngân hàng cũng phát đi thông điệp sẽ điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn từ 1% - 1,5% trong năm nay.

Tuy nhiên trong bối cảnh hiện tại, BSC cho rằng, triển vọng giảm lãi suất đang trở nên khó khăn hơn.

Nguyên do được BSC đưa ra là tỷ giá đang chịu sức ép lớn. Việc giảm lãi suất sẽ khiến giá trị VND càng mất giá hơn, trong khi trên thế giới Ngân hàng Trung ương Mỹ (FED) được dự báo sẽ sớm nâng lãi suất USD trong khoảng tháng 6 tới.

Cùng với đó, nhập siêu đang có dấu hiệu tăng mạnh trở lại sẽ khiến lạm phát ấm dần lên. Ngoài ra, giá dầu thế giới diễn biến phức tạp, việc điều hành chính sách tiền tệ do đó sẽ phải thận trọng hơn.

Trong khi đó, “lượng nợ xấu các ngân hàng có thể gia tăng từ 1/4/2015, khi đảo nợ không còn được chuyển nhóm (Thông tư 09). Tình hình sản xuất kinh doanh cải thiện song khó khăn của một số lĩnh vực, đặc biệt như xây dựng, bất động sản vẫn có thể làm phát sinh thêm nợ xấu. Dù vậy, tín dụng đang tăng khá nhanh và việc hối thúc bán nợ cho VAMC có thể làm con số tỷ lệ nợ xấu được trung hòa và không tăng nhiều”, BSC cho biết thêm./.

Duy Thái

Duy Thái

Đọc thêm

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,800 ▼140K 14,100 ▼140K
Miếng SJC Nghệ An 13,800 ▼140K 14,100 ▼140K
Miếng SJC Thái Bình 13,800 ▼140K 14,100 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼140K 14,150 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼140K 14,150 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼140K 14,150 ▼140K
NL 99.99 13,250 ▼150K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150 ▼150K
Trang sức 99.9 13,460 ▼140K 14,060 ▼140K
Trang sức 99.99 13,470 ▼140K 14,070 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 138 ▼1256K 14,102 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 138 ▼1256K 14,103 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,375 ▼14K 1,405 ▼14K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,375 ▼14K 1,406 ▲1264K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 135 ▼1229K 1,395 ▼14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 ▼1386K 138,119 ▼1386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 ▼1051K 104,785 ▼1051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 ▼953K 95,019 ▼953K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 ▼854K 85,254 ▼854K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 ▼816K 81,487 ▼816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 ▼584K 58,327 ▼584K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Cập nhật: 29/09/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17691 17964 18545
CAD 17795 18069 18682
CHF 30562 30938 31582
CNY 0 3831 3926
EUR 28899 29118 30195
GBP 33611 34000 34941
HKD 0 3181 3383
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14404 14991
SGD 19790 20072 20639
THB 688 751 804
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26165
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,950 28,973 30,345
JPY 160.63 160.92 170.65
GBP 33,794 33,885 35,063
AUD 17,877 17,942 18,628
CAD 17,977 18,035 18,699
CHF 30,817 30,913 31,847
SGD 19,909 19,971 20,754
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.61 18.36 19.98
THB 736.96 746.06 798.83
NZD 14,380 14,514 14,948
SEK - 2,562 2,653
DKK - 3,883 4,020
NOK - 2,675 2,771
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,945.89 - 6,714.59
TWD 736.8 - 892.67
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26160
AUD 17856 17956 18878
CAD 17959 18059 19074
CHF 30796 30826 32400
CNY 3810.1 3835.1 3970.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29063 29093 30819
GBP 33893 33943 35704
HKD 0 3315 0
JPY 161.45 161.95 172.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14494 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19940 20070 20795
THB 0 717 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14320000
SBJ 12000000 12000000 14320000
Cập nhật: 29/09/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30